LƯỢM ƠI, CÒN KHÔNG?
Đọc lại “Lượm” của
Tố Hữu nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2026)
Có những bài thơ đi cùng ta từ thuở bé.
Ngày ấy, ngồi trong lớp học, ta đọc “Lượm”
bằng giọng trong veo của một đứa trẻ. Ta thích chú bé “loắt choắt”, thích “cái
xắc xinh xinh”, thích đôi chân “thoăn thoắt”, chiếc ca-lô đội lệch và tiếng
huýt sáo vang. Trong trí tưởng tượng non nớt ngày ấy, Lượm giống như một cậu
bạn tinh nghịch đang chạy đâu đó trên con đường đầy nắng.
Ta thuộc thơ.
Nhưng có lẽ khi ấy, ta chưa hiểu hết thơ.
Nhiều năm trôi qua. Tháng Bảy lại về. Giữa
những ngày cả nước lặng lòng tưởng nhớ những người đã ngã xuống, tôi mở lại
“Lượm” của Tố Hữu.
Vẫn những câu thơ năm cũ:
“Ngày
Huế đổ máu
Chú Hà Nội về
Tình cờ chú cháu
Gặp nhau Hàng Bè...”
Chỉ có người đọc không còn là đứa trẻ năm
nào.
Và bỗng thấy những câu thơ quen thuộc buồn
đến nao lòng.
MỘT CHÚ BÉ GIỮA NHỮNG
NGÀY ĐẤT NƯỚC ĐAU THƯƠNG
Lượm bước vào bài thơ chẳng có dáng vẻ của
một người anh hùng.
Em chỉ là một chú bé nhỏ nhắn:
“Chú
bé loắt choắt
Cái xắc xinh xinh
Cái chân thoăn thoắt
Cái đầu nghênh nghênh...”
Tố Hữu chỉ cần vài nét mà Lượm đã hiện ra
thật sống động: chiếc ca-lô đội lệch, đôi má đỏ bồ quân, nụ cười híp mí, tiếng
huýt sáo vang. Em hồn nhiên đến mức công việc giao liên giữa những ngày bom đạn
cũng được kể bằng một niềm vui rất trẻ thơ:
“Cháu
đi liên lạc
Vui lắm chú à
Ở đồn Mang Cá
Thích hơn ở nhà!”
Càng lớn, đọc đến hai chữ “vui lắm”, tôi càng
thương.
Bởi em đâu phải người lính đã trưởng thành.
Em vẫn là một đứa trẻ ở cái tuổi đáng lẽ được đến trường, được chạy chơi trên
những con đường làng, được trở về nhà mỗi chiều bên cha mẹ.
Nhưng đất nước có chiến tranh.
Và có những thế hệ đã phải lớn lên trước
tuổi.
Lượm là một trong những đứa trẻ như thế.
Cuộc gặp gỡ giữa hai chú cháu diễn ra chóng
vánh. Lượm cười, chào:
“Thôi, chào đồng chí!”
Rồi:
“Cháu
đi đường cháu
Chú lên đường ra...”
Một người đi một hướng.
Không ai biết đó lại là một cuộc chia tay
mãi mãi.
Đời người có những lần từ biệt như vậy. Khi
chia tay, ta vẫn nghĩ rồi sẽ gặp lại. Vẫn quay lưng bước đi bình thường. Để đến
nhiều năm sau mới hiểu rằng có một bóng người đã ở lại vĩnh viễn phía sau mình.
“RA THẾ, LƯỢM ƠI!”
Tin dữ đến bằng mấy câu thơ ngắn:
“Đến
nay tháng sáu
Chợt nghe tin nhà.
Ra
thế,
Lượm ơi!”
Tôi luôn thấy hai chữ “Ra thế” là một
trong những khoảng lặng đau nhất của bài thơ.
Không một lời than dài.
Chỉ như một người vừa nghe tin dữ, đứng
lặng đi, không biết nói gì ngoài việc gọi tên người đã mất:
Lượm ơi!
Và từ đó, chuyến giao liên cuối cùng của em
hiện về.
Em mang thư “Thượng khẩn”, lao qua mặt
trận.
Đạn bay vèo vèo.
Em vẫn chạy.
Phía trước là nhiệm vụ. Sau lưng có thể là
cái chết.
Rồi khung cảnh bỗng yên đến lạ:
“Đường
quê vắng vẻ
Lúa trổ đòng đòng
Ca-lô chú bé
Nhấp nhô trên đồng...”
Một cánh đồng đang vào mùa.
Lúa đang trổ đòng.
Một chú bé đang chạy giữa màu xanh của quê
hương.
Nếu không có chiến tranh, đó hẳn chỉ là một
buổi chiều rất đẹp.
Nhưng rồi…
“Bỗng
lòe chớp đỏ
Thôi rồi, Lượm ơi!”
Mọi thứ dừng lại.
Tiếng chân dừng lại.
Tiếng huýt sáo dừng lại.
Chiếc ca-lô không còn nhấp nhô giữa đồng.
Chỉ còn:
“Cháu
nằm trên lúa
Tay nắm chặt bông
Lúa thơm mùi sữa
Hồn bay giữa đồng...”
Bao năm rồi, tôi vẫn nghĩ đây là những câu
thơ vừa đẹp, vừa đau đến tận cùng.
Em nằm giữa lúa.
Bàn tay nhỏ vẫn nắm một bông lúa đang thơm
mùi sữa.
Một bên là cái chết.
Một bên là sự sống đang căng đầy.
Một đứa trẻ ngã xuống giữa cánh đồng để rồi
biết bao đứa trẻ mai sau được lớn lên giữa những mùa lúa bình yên.
Có lẽ phải đi qua nhiều năm tháng, người ta
mới hiểu hết cái giá của hai chữ hòa
bình.
Hòa bình là sáng mai con trẻ khoác cặp đến
trường.
Là người mẹ đứng trước cửa đợi con về mà
không sợ một ngày nhận tin dữ.
Là cánh đồng chỉ có tiếng gió và mùi lúa
chín, không có tiếng đạn xé ngang trời.
Những điều hôm nay bình thường đến mức đôi
khi ta quên mất rằng đã có những người đánh đổi cả tuổi thanh xuân, thậm chí cả
cuộc đời, để giữ lấy.
THÁNG BẢY, LẠI NGHE
MỘT TIẾNG GỌI
Năm 2026, đất nước kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ.
Bảy mươi chín năm.
Một quãng thời gian đủ dài để nhiều dấu
tích chiến tranh phủ màu rêu cũ; đủ dài để những thế hệ sinh ra sau hòa bình
chỉ biết tiếng bom qua sách vở, phim ảnh và lời kể của ông bà.
Nhưng có những điều không thể cũ.
Lòng biết ơn là một trong số đó.
Bởi phía sau cuộc sống hôm nay là biết bao
người đã mãi mãi dừng lại ở tuổi hai mươi, mười tám, mười sáu... Có những người
khi nằm xuống còn rất trẻ.
Trẻ như Lượm.
Đọc lại bài thơ trong tháng Bảy này, tôi
bỗng hình dung một khuôn hình rất chậm.
Chiều xuống trên một cánh đồng.
Gió lướt qua những ngọn lúa.
Mặt trời cuối ngày rót một màu vàng nhạt
xuống con đường quê.
Xa xa, hình như có một chú bé đang chạy.
Chiếc xắc nhỏ đung đưa bên mình.
Chiếc ca-lô đội lệch.
Đôi chân thoăn thoắt.
Rồi em quay lại.
Cười híp mí.
Một cái vẫy tay rất nhanh.
Và chạy tiếp.
Chạy mãi về phía cuối cánh đồng.
Bóng em nhỏ dần.
Nhỏ dần...
Rồi hòa vào màu vàng của lúa.
Tôi muốn gọi:
Lượm!
Nhưng giữa cánh đồng chỉ còn tiếng gió.
Bảy mươi chín năm trước, có những người đã
ra đi như thế. Không kịp già. Không kịp sống hết những tháng năm đẹp nhất của
đời mình. Không kịp nhìn thấy đất nước vào ngày hòa bình.
Còn chúng ta hôm nay đang được sống tiếp
phần đời mà họ đã gửi lại.
Bởi vậy, mỗi ngày bình yên ta đang có đều
mang trong đó một món nợ của lòng biết ơn.
Tố Hữu từng hỏi:
“Lượm ơi, còn không?”
Ngày bé, tôi cứ nghĩ đó là câu hỏi dành cho
một chú bé đã hy sinh.
Bây giờ đọc lại, tôi chợt hiểu dường như
câu hỏi ấy còn dành cho cả những người đang sống.
Lượm có còn trong ký ức chúng ta
không?
Những người đã ngã xuống có còn được nhắc
tên không?
Những hy sinh của cha anh có còn được những
thế hệ sau gìn giữ khi chiến tranh đã lùi rất xa?
Ngoài kia, chiều tháng Bảy đang xuống.
Một cánh đồng lúa lại trổ đòng.
Trên con đường làng, vài đứa trẻ ríu rít
đạp xe về nhà.
Không tiếng súng.
Không đạn bay vèo vèo.
Không còn những lá thư “Thượng khẩn” phải
gửi qua mặt trận.
Chỉ có tiếng trẻ cười trong gió.
Có lẽ đó chính là câu trả lời đẹp nhất.
Tôi khép trang sách.
Nhưng kỳ lạ thay, chú bé trong bài thơ vẫn
chạy.
Vẫn cái xắc xinh xinh.
Vẫn chiếc ca-lô đội lệch.
Vẫn đôi chân thoăn thoắt trên con đường
vàng.
Phía xa, bóng em hòa dần vào cánh đồng.
Và từ đâu đó giữa mùi lúa thơm mùi sữa, câu
hỏi năm xưa lại vọng về, rất khẽ:
“Lượm ơi, còn không?”
...
Còn.
Chừng nào trên đất nước này những đứa trẻ
còn được bình yên đến trường;
chừng nào những cánh đồng còn xanh dưới một
bầu trời không tiếng súng;
chừng nào chúng ta còn biết cúi đầu trước
những người đã ngã xuống và kể cho con cháu mình nghe hòa bình đã được đánh đổi
bằng điều gì -
thì Lượm vẫn còn.
Em không còn chạy giữa làn đạn nữa.
Em đang chạy giữa hòa bình.
Và phía sau bước chân em —
là Tổ quốc.
Yên Mỹ, ngày 27.7.2026
Quang Đặng