Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2026

TRĂNG QUA MIỀN ĐAU

 



TRĂNG QUA MIỀN ĐAU

Thuở ấy trăng non đậu cuối thôn,
Theo tà áo mỏng khuất hoàng hôn.
Trăng từ môi mắt vào thương nhớ,
Rồi lạnh trong tim một vết buồn.

Trăng thấm qua miền thân xác đỏ,
Hồn lìa đau đớn giữa cô đơn.
Đi tận nhân gian cùng máu lệ,
Trăng thành ánh sáng rọi linh hồn.

QĐ – 8.2026

 


Hai Mươi Tám Mùa Trăng – Ánh Sáng Bất Tận


Hai Mươi Tám Mùa Trăng –

Ánh Sáng Bất Tận

Tóm tắt:

Hàn Mặc Tử (1912–1940) chỉ sống 28 năm nhưng để lại thi ca rực rỡ vượt thời gian. Bài viết này xem xét chặng đường sinh thành và sáng tác của ông, từ tuổi thơ miền Trung sớm gặp Bạch Phong đến ba giai đoạn thơ chính: thơ Đường luật thời trai trẻ, thơ lãng mạn giai đoạn Gái Quê, và thơ siêu thực huyền ảo trong giai đoạn sau khi bệnh phong bộc phát. Trong mỗi chặng đường, ta thấy hiện hữu chủ đề về trăng, mùa xuân, tình yêu và nỗi đau thể xác, vươn tới ánh sáng của niềm tin. Tác phẩm tập trung lý giải vì sao từ “trong đáy tối bừng lên” kia (như chính Hàn từng viết) thơ ông không phải chỉ là tiếng kêu phó mặc cho định mệnh, mà là ánh sáng văn chương của đời ông. Các dẫn chứng minh họa bao gồm hình tượng “cây cau, mái tranh, vầng trăng, cỏ hoa” trong Gái quê và Đây thôn Vĩ Dạ, hình ảnh máu và trăng trong Đau thương, và niềm hy vọng Thiên Chúa giáo trong Xuân như ý.

 

Hàn Mặc Tử sinh ngày 22/9/1912 tại làng Lệ Mỹ (Quảng Bình) trong một gia đình Công giáo nghèo. Tên khai sinh của ông là Nguyễn Trọng Trí, mang tên thánh Phêrô Phanxicô khi chịu phép Rửa Tội. Sau khi cha mất (1926), gia đình đưa ông về Quy Nhơn. Từ 1928–1930 Hàn học ở trường Pellerin (Huế) và từng được Phan Bội Châu khen ba bài thơ Đường luật đầu tay “Thức khuya”, “Chùa hoang”, “Gái ở chùa”. Năm 1930, ông tốt nghiệp tiểu học và năm 1932 vào Sở Địa chính Quy Nhơn làm thư ký. Tại đây Hàn kết bạn với Quách Tấn và nhiều nhà thơ đương thời, góp phần tạo nên “Tứ hữu” Phong Trần – Hàn Mặc Tử – Yến Lan – Chế Lan Viên. Giai đoạn này Hàn dùng các bút danh Phong Trần, Lệ Thanh, gắn với tập Lệ Thanh (toàn các bài Đường luật) và mạch thơ truyền thống.

 

Tháng 6/1930 ông về Quy Nhơn học xong tiểu học; đến 1932 đi làm ở Sở Địa chính thì quen Hoàng Thị Kim Cúc – cô giáo thôn nữ mà ông gọi là Hoàng Hoa. Tình cảm của Hàn dành cho Kim Cúc là đơn phương: ông viết thơ, viết thư mời cưới, nhưng vị giáo sinh đáp lại bằng tình nghĩa văn chương chứ không trở thành đôi lứa. Tiếng thơ “Ở đây thôn Vĩ Dạ” mà thiên hạ lưu truyền thực là lời ngợi ca (phủ định) Hoàng Hoa: “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó? / Có chở trăng về kịp tối nay?”. Xét theo thời gian, giai đoạn 1932–1935 còn là lúc Hàn Mặc Tử viết thơ lãng mạn và nặng yếu tố Đường luật: tập Gái Quê (1936) ra đời cuối cùng của nhóm bài phong trần. Gái Quê được các nhà phê bình xếp vào những tập thơ lãng mạn hay nhất thời, cùng với Thơ thơ của Xuân Diệu và Mấy vần thơ của Thế Lữ. Trong Gái Quê và những bài xuân ca khác, Hàn viết về mái tranh, hàng cau, cỏ hoa mùa thắm… với chất giọng thiết tha của mùa xuân và tình quê hương. Những hình ảnh như “Nắng vàng hong mỏng mái tranh quê” hay “giữa khi hoa cỏ đang mùa thắm” trong thơ ông được giai đoạn này củng cố bởi kinh nghiệm thường nhật ở ngoại thành và cõi lòng si tình (ví dụ thơ về Gái quê, Xuân như ý).

 

Một bước ngoặt quyết định xảy đến khi bệnh phong bộc phát: từ khoảng 1935, Hàn Mặc Tử nhận ra các dấu hiệu của bệnh nan y nhưng lúc đầu coi nhẹ vì tưởng chỉ là ngứa phong bình thường. Đến 1936, sau khi tập Gái Quê xuất bản và sắp sang Sài Gòn làm chủ bút báo, ông mới ý thức bệnh tình không ổn. Từ 1938 trở đi, đau đớn thể xác hoành hành, Hàn giam mình trong hoang vắng của căn bệnh hủi và tình yêu tan vỡ. Giai đoạn này trở thành “cơn địa chấn” trong nghệ thuật ông: tập thơ Đau thương (hay Thơ Điên, 1938) đánh dấu một cú đổi phong cách “360 độ” của thi sĩ. Trong Đau thương, hình tượng “máu, hồn và trăng” được lặp lại đậm nét. Ví dụ, ở bài “Say trăng” Hàn viết:

“Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy

Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra”.

Hình ảnh trăng ở đây vừa tĩnh lặng vừa ám ảnh, pha lẫn tuyệt vọng “điên cuồng”. Tương tự, câu thơ từ bài “Hồn là ai?” lặp đi lặp lại tiếng gọi hồn và ám ảnh thập tử nhất sinh. Như nhà phê bình Quách Tấn nhận xét, bệnh tật khiến thi ca Hàn Mặc Tử thay đổi chủ đề hoàn toàn; nhưng không phải tự nó tạo nên chất thơ độc đáo. Ngược lại, nỗi đau đã được ông tôi luyện thành sức sáng tạo, đưa thi ca ông lên “đỉnh núi” cô đơn của Thơ Mới Việt Nam.

 

Đặc biệt, tuy thân xác ngày một kiệt quệ, Hàn Mặc Tử lại tìm về với ánh sáng bằng đức tin và hình ảnh tôn giáo. Ông luôn coi mình là con chiên ngoan đạo, thấm nhuần tư tưởng Thiên Chúa giáo. Trong tập Xuân như ý, trong Thượng thanh khí và nhiều bài thơ sau cùng, niềm hy vọng được cứu rỗi mang đậm dấu ấn tôn giáo. Nhiều câu thơ ngập tràn hình ảnh trăng trong giai đoạn này không chỉ có yếu tố kỳ ảo mà còn ẩn dụ khát vọng ấm no. Đáp lại nỗi cô đơn “màu lá đã chia xa” (Vĩ Dạ) của nhân thế, thi sĩ dâng tặng trang thơ “ướt giọt sương mai” và gọi mời người ra khỏi tối tăm. Như Đỗ Lai Thúy phân tích, niềm tin tôn giáo chính là động lực để Hàn dựng nên một thế giới thơ thanh khiết “như lúc khởi đầu của trời đất”, cứu rỗi phần hồn đau khổ của mình. Vì vậy, hình ảnh “sáng” trong thơ Hàn Mặc Tử ngày càng hiện rõ – từ bầu trời mùa xuân chín đỏ đến “ánh trăng còn thức cùng ta” giữa muôn vàn cơ cực.

 

Bảng dưới đây so sánh ba giai đoạn sáng tác chính của Hàn Mặc Tử về khung thời gian, tác phẩm tiêu biểu và hình ảnh chủ đạo:

Giai đoạn sáng tác

Thời gian

Tác phẩm tiêu biểu

Hình ảnh chủ đạo

Thơ Đường luật & khởi đầu (Phong Trần)

1928–1935

Lệ Thanh thi tập (toàn thơ Đường luật)

trăng thanh, cau xanh, tình quê

Thơ lãng mạn hiện đại

1936–1937

Gái Quê (1936), Xuân như ý

nắng xuân, mái tranh, tâm hồn tha thiết

Thơ siêu thực – Đau thương

1938–1940

Mùa xuân chínĐau thương (Thơ Điên, 1938)

máu, trăng, hồn, cõi tối

 

Đường thời gian dưới đây minh họa những sự kiện quan trọng trong đời ông, từ chào đời đến khi mất và những cột mốc sáng tác:



Với lối viết đầy nội lực và chất “thần bí, điên đảo”, Hàn Mặc Tử đã biến những bất hạnh thành “thơ từ đáy tối bừng lên sáng” (qua hình ảnh trăng, hoa, máu lệ)… – đúng như người bạn văn Chế Lan Viên từng dự cảm, “mai sau những cái tầm thường tan đi, còn lại một chút đáng kể là Hàn Mặc Tử”. Thơ Hàn Mặc Tử khơi gợi ở người đọc cảm giác vừa hân hoan trước sắc màu tươi sáng của thiên nhiên, vừa chạnh lòng trước khổ đau kiếp người. Cuộc đời ông tuy ngắn ngủi nhưng như “một vì sao tự cháy mình”; nhờ lòng yêu đời mãnh liệt và niềm tin kiên định, thi ca của ông vẫn luôn lan tỏa ánh sáng bất tận, nuôi dưỡng tâm hồn các thế hệ người yêu thơ sau này.

 

Tài liệu tham khảo: Các thông tin trong bài viết được trích dẫn từ những nguồn khảo cứu và lưu trữ văn học uy tín của Việt Nam, gồm các bài báo và nghiên cứu học thuật sau đây:

 

1.       Báo Pháp Luật Việt Nam, “Ám ảnh về nỗi cô đơn, sự cô độc trong thơ Hàn Mặc Tử”.

2.       Tạp chí Nghiên cứu Phật học, “Hàn Mặc Tử và thơ Phật giáo” (2018).

3.       Phanxipăng, Tia Sáng, “Sự thật về mối tình Hàn Mặc Tử – Hoàng Thị Kim Cúc” (22/10/2010).

4.       Trần Hoàng Hoàng, Báo Quân đội Nhân Dân, “‘Đỉnh núi’ cô đơn của Phong trào Thơ Mới” (23/12/2022).

5.       Trí Bửu, Thư viện Hoa Sen, “Hàn Mặc Tử & Thơ Phật giáo” (03/08/2018).

6.       Tổng Giáo phận Hà Nội, “100 năm ngày sinh Hàn Mặc Tử (Bài 4)”.

Quang Đặng – 14.8.2026


Thứ Năm, 13 tháng 8, 2026

Hai mươi tám mùa trăng

 



Có những cuộc đời được tính bằng năm tháng. Cũng có những cuộc đời rất ngắn, nhưng những gì họ để lại khiến thời gian dường như phải tính theo một cách khác.

Hàn Mặc Tử, tên thật Nguyễn Trọng Trí, sinh ngày 22 tháng 9 năm 1912 tại Lệ Mỹ, Đồng Hới, Quảng Bình và mất ngày 11 tháng 11 năm 1940 tại Quy Hòa, Quy Nhơn. Ông chỉ sống hai mươi tám năm — một đời người chưa kịp dài — nhưng chừng ấy thời gian đã đủ để tạo nên một cõi thơ gần như không thể trộn lẫn trong thi ca Việt Nam hiện đại.

Từ Gái quê, Đau thương (Thơ Điên), Xuân như ý đến những thi phẩm đã ở lại với nhiều thế hệ như “Mùa xuân chín”, “Đây thôn Vĩ Dạ”, Hàn Mặc Tử đưa vào thơ một thế giới vừa trong trẻo vừa huyền ảo, vừa trần thế vừa như muốn vượt khỏi trần gian. Ở đó có nắng trên mái tranh, hàng cau, vườn xanh, tình yêu và trăng; nhưng cũng có máu, lệ, cô đơn, những cơn đau của thân xác và một khát vọng hướng tới cái đẹp, cái thiêng liêng đến cháy bỏng.

Điều khiến tôi kính trọng Hàn Mặc Tử không chỉ là tài năng hay số phận bi thương. Sâu hơn cả là một nghịch lý đau lòng mà đẹp đẽ: càng bị bệnh tật đẩy xa khỏi đời sống bình thường, ông càng tha thiết với sự sống. Giữa cô quạnh, ông vẫn nhìn thấy một hàng cau xanh, một mái nhà trong nắng, một mùa xuân đang chín, một vầng trăng trên cao; vẫn yêu, vẫn mộng, vẫn hướng về con người và cái đẹp. Dường như càng đau, ông càng muốn ôm lấy nhân gian bằng thơ.

Và có lẽ điều kỳ lạ nhất ở Hàn Mặc Tử nằm chính ở đó: nỗi đau không làm thơ ông tối đi. Có những lúc, từ nơi tưởng như tận cùng của bóng tối, câu thơ lại bừng sáng dữ dội hơn. Thân xác ngày một bị giới hạn, nhưng tưởng tượng thì mở tới những tầng trời; đời sống ngày một thu hẹp, nhưng thế giới thi ca lại ngày một rộng lớn. Người đọc vì thế không chỉ gặp một Hàn Mặc Tử đau đớn, mà còn gặp một tâm hồn quyết liệt kiếm tìm sự sống ngay bên bờ của mất mát.

Ngày 11 tháng 11 năm 1940, cuộc đời Nguyễn Trọng Trí dừng lại ở tuổi hai mươi tám. Nhưng thơ Hàn Mặc Tử thì không dừng ở đó. Trăng vẫn sáng trong những trang thơ, Vĩ Dạ vẫn xanh, mùa xuân vẫn chín — và những câu thơ sinh ra từ một đời người ngắn ngủi vẫn tiếp tục đi qua nhiều thế hệ.

Tôi viết “Hai mươi tám mùa trăng” từ niềm kính trọng và xúc động ấy.

Hai mươi tám câu thơ cho hai mươi tám năm một đời người.
Hai mươi tám mùa rất ngắn giữa nhân gian — nhưng đủ để một thi sĩ để lại phía sau mình cả một bầu trời.

Bởi có những cuộc đời khép lại rất sớm, mà ánh sáng của họ thì không chịu tắt.

 

Hai mươi tám mùa trăng

Hai tám mùa xuân một kiếp người,
Mà gieo trăng xuống mấy tầng trời.
Từ miền cát trắng câu thơ dậy,
Một cõi trăng bừng giữa cuộc đời.

Thuở ấy thơ còn hương đất mới,
Nắng vàng hong mỏng mái tranh quê.
Giữa khi hoa cỏ đang mùa thắm,
Người đã nghe mùa khuất lối về.

Vĩ Dạ hàng cau xanh đến thế,
Mà sau màu lá đã chia xa.
Gió theo một ngả, mây đường khác,
Chỉ ánh trăng còn thức cùng ta.

Yêu đời đến cỏ cây thành bạn,
Đau đến vầng trăng cũng nhuốm sầu.
Thân càng khép lại trong cô quạnh,
Hồn lại mở ra muôn sắc màu.

Có những đêm trăng thành máu lệ,
Có lời gọi vọng giữa tử sinh.
Thơ từ vực tối tìm ra sáng,
Như một vì sao tự cháy mình.

Quy Hòa biển vẫn xanh ngoài cửa,
Sóng cứ vô tư bạc cuối ghềnh.
Hai tám mùa thôi, người dừng bước,
Mà thơ còn thức giữa chênh vênh.

Người khuất, trăng kia đâu chịu khuyết,
Vườn thơ còn ướt giọt sương mai.
Tôi nghiêng trang giấy nghe trong chữ:
Một trái tim đau vẫn sáng hoài.

QĐ – 15.8.2026

 


NGHE BIA ĐÁ

 



    Giữa bao xao động hôm nay, có lúc tôi chợt thấy mình lặng đi trước lịch sử. Quá khứ chưa bao giờ chỉ nằm yên trên những trang giấy đã khép lại. Đằng sau mỗi dòng chữ là biết bao phận người từng sống, từng yêu thương, từng chịu đựng; có người đã gửi cả tuổi xuân và máu xương vào lòng đất, để những mùa sau còn xanh.

Người sống có thể nhìn về quá khứ bằng những cách khác nhau — ngợi ca, phản biện hay bổ khuyết những điều còn khuất lấp. Nhưng dù từ điểm nhìn nào, điều cần giữ trước hết vẫn là sự chính trực và công bằng: không lấy vòng hoa che đi vết khuất, cũng không vì những được mất hôm nay mà xóa nhòa công lao của người đi trước.

Trang sử nằm trong tay người đang sống, nhưng người nằm xuống đã vĩnh viễn không thể trở về để tự mình phân giải. Có những điều đã thành câu chữ. Có những điều vẫn nằm im trong lòng đất, giữa cỏ cây, bên những tấm bia đã bạc màu qua bao mùa mưa nắng.

Vì thế, khi viết về quá khứ, có lẽ mỗi người cần biết lặng lại — để nghe những điều chưa được viết, nghe cả sự im lặng của đá, và nghe tiếng vọng từ lương tri của chính mình.

Từ nỗi niềm ấy, “Nghe Bia Đá” ra đời — không phải để phán xét, mà như một lời tự nhắc về sự thật, lòng biết ơn và trách nhiệm của người đang sống: với người đã khuất, với hôm nay và cả mai sau.

 

NGHE BIA ĐÁ

Chiều xuống hàng bia lạnh bóng người,
Cỏ non vừa khép một chân trời.
Tên ai còn khắc trong lòng đá,
Tuổi đã nằm yên dưới đất rồi.

Sông vẫn qua làng như thuở trước,
Phù sa bồi lở mấy bờ trôi.
Có người gửi tuổi vào con nước,
Cho một mùa sau lúa lại ngời.

Trang sử mở ra, hương giấy cũ,
Bàn tay chầm chậm lật thời gian.
Mực đen đôi lúc nghiêng theo bút,
Bia đá ngoài kia vẫn thẳng hàng.

Một chữ thêm vào, sông khác bóng,
Một dòng gạch xuống, núi chùng vai.
Người nằm đâu thể về phân giải,
Chỉ gió qua đồi, cỏ thở dài.

Đừng lấy vòng hoa che vết khuất,
Cũng đừng vì giận xóa công người.
Trăng in đáy nước, trăng còn đó,
Mây phủ chân trời, trời vẫn trời.

Bao lớp người qua thành bóng khuất,
Dấu chân còn lại với tháng ngày.
Danh vị rồi cũng phai trên giấy,
Nghĩa lớn còn xanh giữa cỏ cây.

Đêm xuống sách xưa còn để ngỏ,
Ngọn đèn nghiêng bóng xuống từng trang.
Có tiếng người chìm trong nét mực,
Có đời còn khuất mép thời gian.

Có bia đứng lặng qua mưa nắng,
Có tiếng không lời dưới đất sâu.
Người viết cúi đầu bên trang sử,
Nghe điều chưa viết vọng về sau.

Xin lật trang xưa bằng tay sạch,
Đừng đem quá khứ dựng thành gươm.
Máu người đã thấm sâu lòng đất,
Đừng để màu xanh nhuốm đỏ thêm.

Mai có trẻ thơ qua nghĩa địa,
Khẽ hỏi tên người dưới cỏ xanh.
Xin người cầm bút nghe bia đá,
Kẻo người nằm xuống chết hai lần.

Quang Đặng - 14.8.2026


SAU MÙA TRÓC VỎ

 



Tháng Tám, sau một đêm mưa, làng ven sông thức dậy trong mùi đất ẩm và chút heo may vừa chạm ngõ. Sương từ bãi theo gió về vườn, nắng sớm rót qua hàng cau. Nước rút bên thềm, một giàn mướp đổ được ai đó lặng lẽ nâng lên, buộc lại.

Trong những mái nhà tưởng như bình yên ấy, mỗi người vừa đi qua một điều gì đó: một mất mát, một cơn đau, một lần đứt gãy. Không ai kể. Người ta chỉ lặng lẽ vá lại, nối lại, dựng lại những gì còn có thể — rồi tiếp tục một ngày như bao ngày khác.

Ngày chậm rãi trôi về chiều. Bếp nhà đỏ lửa, khói vương lên mái. Ngoài đê, bãi ngô trải xanh, một chuyến đò muộn lặng lẽ về bến.

Và rồi, ở cuối vườn, một người tình cờ nhìn lên.

Dưới vòm lá xanh, dâu da xoan đã trắng hoa tự bao giờ. Không ai thấy lúc những nụ nhỏ sinh ra. Chỉ đến khi hương đã lan vào một khoảng nhà, mới hay điều tưởng đã cũ vẫn âm thầm nở hoa.

“Sau mùa tróc vỏ” bắt đầu từ khoảnh khắc ấy.

 

SAU MÙA TRÓC VỎ

Tháng Tám về đầu ngõ,
Mưa đêm vừa ghé qua.
Heo may lay bờ giậu,
Giọt đọng bên hiên nhà.

Sớm mai sương từ bãi
Theo gió phủ giàn trầu.
Bà ngồi trên thềm gạch,
Nhìn nắng rót hàng cau.

Sau mưa còn ngập lối,
Nước rút dần bên thềm.
Ai nâng giàn mướp đổ,
Buộc lại sợi dây mềm.

Có người vừa mất việc,
Sáng vẫn xới luống rau.
Mầm non vừa nhú đất,
Xanh lên tự thuở nào.

Có người qua cơn ốm,
Kê ghế ngồi ngoài sân.
Chén trà thả khói mỏng,
Nắng hong đôi bàn chân.

Cô giáo thôi lên lớp,
Vẫn dạy trẻ ê a.
Trang sách bên song cửa,
Nắng đậu trên tóc bà.

Ông già ngồi vá dép,
Kính trễ xuống ngang mày.
Mũi kim xuyên da cũ,
Đường chỉ liền trong tay.

Chị nhà bên đầu xóm,
Áo tang đã bạc màu.
Lại cài bông hoa đỏ,
Lặng nhìn mình hồi lâu.

Anh thợ điện cuối xóm
Nối lại những đường dây.
Chiều nghiêng qua mái ngói,
Đèn vàng lay bóng cây.

Lũ trẻ ùa ra bãi,
Thả diều giữa trời cao.
Dây căng theo ngọn gió,
Tiếng cười vọng bờ ao.

Chẳng ai ngồi kể hết
Bao được mất đã qua.
Gian bếp vừa đỏ lửa,
Khói vương trên mái nhà.

Ngoài đê sông chảy chậm,
Bãi ngô xanh mênh mang.
Một con đò về muộn,
Chở chiều sang bến làng.

Cuối vườn cây dâu da,
Lặng im dưới chiều tà.
Trong vòm xanh yên ắng,
Bỗng trắng từng chùm hoa.

Không ai hay từ lúc
Những nụ nhỏ sinh ra.
Đến khi nhìn lên thấy —
Đã thơm một khoảng nhà.


Quang Đặng - 14.8.2026


Thứ Tư, 12 tháng 8, 2026

MỘT CHIỀU QUA ĐỒI TÍM

 



Một chiều thu Hà Nội, tình cờ được nhà thơ Nguyễn Quảng, thành viên CLB Văn Thơ HUBT, chia sẻ ca khúc Đồi Tím Hoa Sim – Vinh Sử, Hữu Minh (Minh Vy). Nghe một lần, rồi lại muốn nghe thêm lần nữa.

Có lẽ bởi trong giai điệu ấy hiện lên một miền sơn cước thật đẹp: triền sim tím, dòng suối nhỏ, bóng người sơn nữ, chút nắng muộn và một nỗi nhớ bảng lảng từ những năm tháng đã xa. Khúc nhạc khép lại mà những hình ảnh ấy vẫn chậm rãi trôi trong tâm trí, như một thước phim cũ chưa chịu dừng.

Ngoài cửa sổ, Hà Nội đang vào thu. Heo may vừa chạm ngõ. Không hiểu sao cái se nhẹ của chiều thu Hà Nội lại gặp màu tím của một miền đồi xa trong câu hát. Và từ cuộc gặp gỡ rất tình cờ ấy, những câu lục bát đầu tiên đến.

Xin cảm ơn nhà thơ Nguyễn Quảng đã sẻ chia một khúc nhạc đẹp. Từ dư âm của Đồi Tím Hoa Sim, trong một chiều thu Hà Nội, tôi viết Một Chiều Qua Đồi Tím — như muốn giữ lại một chút màu hoa, một bóng người và một dư âm còn ngân từ một thời xa vắng.

 

MỘT CHIỀU QUA ĐỒI TÍM

Chiều nghiêng xuống một lưng đồi,
Mây vương tím cả khoảng trời xa xăm.
Hoa sim níu chút nắng thầm,
Chim rừng gọi bạn âm thầm cuối non.

Suối trong len giữa lối mòn,
Mang theo chiếc lá vẫn còn nắng phai.
Ai về buổi ấy đường dài,
Mà nghe gió vướng bờ vai tóc mềm.

Em từ sương núi bước lên,
Hoa sim cài tím một bên mái đầu.
Bàn chân khẽ chạm nhịp cầu,
Nước rung một thoáng, rừng sâu động chiều.

Áo chàm theo gió phiêu diêu,
Mây vờn qua núi, nắng xiêu sườn rừng.
Ai nhìn mà bước ngập ngừng,
Sợ làm lay động một vùng nắng hanh.

Hoàng hôn chầm chậm qua cành,
Khói ai vừa nhóm mong manh ven ngàn.
Một câu hát thả mơ màng,
Nửa theo con nước, nửa sang triền đồi.

Ngày xa tím một khoảng trời,
Người đi để lại một lời chưa trao.
Bao mùa mưa nắng qua mau,
Hoa còn thức giữa bờ lau gió về.

Có người giữ một câu thề,
Gom hương sắc núi gửi về lời ca.
Có người nhớ một chiều xa,
Để câu thương nhớ ngân nga tháng ngày.

Từ đâu một khúc tình say,
Theo màu sim tím heo may lưng đồi.
Ai đem nỗi nhớ xa xôi,
Mà bao năm cứ bồi hồi miên man.

Băng xưa quay chậm cung đàn,
Nghe như giọt nắng vừa tan bên thềm.
Ai ngồi lặng giữa chiều êm,
Bỗng thương tà áo bên rèm thoáng bay.

Tháng năm theo gió heo may,
Hương sim còn đọng bao ngày trong ta.
Người năm ấy ở đâu xa,
Mà câu hát vẫn ngân qua núi đồi.

Hôm nay mây lại ngang trời,
Dòng khe vẫn hát những lời trong xanh.
Em còn nguyên nét mong manh,
Tóc cài hoa tím bên vành sương bay.

Khép rồi một khúc mê say,
Mà màu hoa vẫn đong đầy nhớ thương.
Ngỡ đâu qua mấy dặm đường,
Một tà áo tím còn vương cuối đồi.

Quang Đặng – 13.8.2026



GIẾNG CŨ

 





Có một Yên Mỹ của những năm tám mươi vẫn còn nguyên trong ký ức tôi: ngôi nhà nhỏ bên dòng sông Hồng, sân gạch chiều nghiêng bóng cau, tiếng gàu khua bên giếng, tiếng ếch gọi từ ao xa, và dáng mẹ, bóng cha lặng lẽ đi qua những tháng ngày còn nhiều thiếu thốn mà đầy hơi ấm.

Rồi người lớn lên, rời làng, đi qua bao miền đất khác. Con sông vẫn chảy, mùa màng vẫn nối nhau, chỉ có năm tháng âm thầm mang đi từng bóng dáng thân quen. Đến một ngày trở về, cúi xuống vành giếng đã xanh rêu, ta cứ ngỡ sẽ gặp lại tuổi thơ dưới đáy nước. Nào ngờ, hiện lên rõ nhất lại là chính mình — với bao năm tháng đã đi qua trong đôi mắt.

Từ miền nhớ ấy, tôi viết Giếng cũ — gửi về ngôi nhà xưa ở Yên Mỹ bên dòng sông Hồng, và gửi tới những ai từng đi thật xa mới hiểu rằng: có những nơi ta tưởng mình đã rời từ rất lâu, nhưng suốt một đời, nơi ấy chưa từng rời khỏi ta.


GIẾNG CŨ

Thuở nhỏ sân nhà một giếng trong,
Trưa hè mây trắng ngủ bên song.
Tôi nghiêng vành đá tìm khuôn mặt,
Thấy cả trời xanh dưới đáy vòng.

Bóng cau chao xuống làn nước biếc,
Dây chão đưa đều tiếng gàu khua.
Mẹ rửa mớ rau bên bậc đá,
Cha về rửa mặt buổi đồng trưa.

Nước mát từng nuôi bao ngày nhỏ,
Gàu nghiêng từng tưới mạ xanh non.
Đêm hè trăng đậu trên vành đá,
Ếch gọi ngoài ao, tiếng vẫn còn.

Rồi lớn, chân đi qua mấy xứ,
Nhà cao che khuất những chân trời.
Nước theo vòi bạc đầy trong chén,
Lâu lắm không còn cúi xuống soi.

Một bận trở về qua ngõ cũ,
Cau già thưa bóng, mẹ cha đâu.
Rêu xanh đã phủ vành giếng đá,
Dây chão nằm im tự thuở nào.

Tôi cúi như thời thơ bé ấy,
Mặt người lay động giữa tầng sâu.
Tìm đâu đứa trẻ bên thành giếng —
Chỉ thấy tóc mình đã bạc đầu.

Nước chẳng hỏi người đi mấy nẻo,
Rêu nào trách kẻ biệt bao lâu.
Tôi về tìm lại thời thơ ấu,
Giếng cũ soi mình — mắt bỗng sâu.

Quang Đặng – 13.8.2026

 


Thu từ độ ấy

 



Có những người đi qua đời ta rồi xa, nhưng một mùa cây thay lá, một mùi hương cũ, một chiều nắng nghiêng vẫn âm thầm giữ họ ở lại. Thời gian làm nỗi nhớ nhẹ đi, chứ không phải lúc nào cũng làm nó mất đi. Để rồi một ngày thu trở lại, ta chợt hiểu: người đã xa, chỉ có mùa năm ấy vẫn chưa từng đi qua.

Xin gửi một chút dịu dàng của Thu từ độ ấy.


Thu từ độ ấy

Rèm thưa nắng muộn rót bên tường,
Gió nhẹ đưa thu xuống ngõ sương.
Giậu trúc hoa nghiêng vương cánh bướm,
Bờ tre lá động thoảng làn hương.

Cốm non ủ mật thơm hiên vắng,
Sen cũ hong chiều ngát cuối đường.
Người xa từ độ thu còn đợi,
Lá vàng rơi mỏng một niềm thương.

Quang Đặng – 8.2026

 


PHÍA BÓNG DIỀU

 




PHÍA BÓNG DIỀU


Ngõ nhỏ ngày xưa rợp bóng tre,
Rơm vàng thơm nắng dọc triền đê.
Em nghiêng gàu nước bên giếng đá,
Anh thả trâu về chậm lối quê.

Mùa hạ đôi lần lũ ngập sông,
Hai người trú vội dưới cây bòng.
Mưa nghiêng ướt nửa tà áo mỏng,
Hoa trắng theo nhau kín mặt dòng.

Một trận nước nguồn xé bãi ngang,
Bờ tre lở mất, bến sang làng.
Cầu xây từ đó qua sông mới,
Lối cũ dần phai giữa cỏ hoang.

Bao mùa con nước đổi nương dâu,
Ngày trở về đây tóc bạc đầu.
Giếng đá rêu phong, bòng khuất bóng,
Cò bay trắng một khoảng sông sâu.

Anh đứng hồi lâu giữa ngõ chiều,
Gió đồng đưa lại tiếng sáo diều.
Ngỡ ai vừa gọi bên bờ giếng,
Ngoảnh lại — mình xưa phía bóng diều.

Quang Đặng – YM, 12.8.2026

 


Thu Còn Đôi Mươi

 



Thu Còn Đôi Mươi

Thu lại nghiêng vàng trên phố cũ,
Heo may vừa gọi tuổi đôi mươi.
Bờ đê cỏ biếc chiều năm ấy,
Hai bím tóc em vờn nắng rơi.

Công viên nắng đọng trên ghế đá,
Một chiếc lá vàng vương tóc em.
Anh khẽ đưa tay gỡ chiếc lá,
Em cúi đầu cười — má ửng thêm.

Chẳng nói gì đâu, tay khẽ chạm,
Ngập ngừng rồi chẳng nỡ buông rời.
Hoàng hôn rót tím qua hàng lá,
Chỉ ước con đường dài mãi thôi.

Có buổi Hồ Gươm thu xuống chậm,
Hai người men nước bước kề nhau.
Đèn vàng chợt nở quanh bờ liễu,
Mới biết trời đêm tự lúc nào.

Bao mùa lá rụng rồi xanh lại,
Tóc em thấp thoáng sợi màu sương.
Em vẫn bên anh như ngày ấy,
Bàn tay còn ấm thuở vấn vương.

Năm mươi, thu khẽ lay vai áo,
Bỗng thấy đôi mươi đứng rất gần.
Đèn cũ Hồ Gươm vừa sáng lại —
Hai người còn bước giữa thanh xuân.

Quang Đặng – 12.8.2026

 


TRĂNG QUA MIỀN ĐAU

  TRĂNG QUA MIỀN ĐAU Thuở ấy trăng non đậu cuối thôn, Theo tà áo mỏng khuất hoàng hôn. Trăng từ môi mắt vào thương nhớ, Rồi lạnh trong ...