Thứ Ba, 16 tháng 6, 2026

Tiếng Vọng Dòng Sông

 


Có những mạch nguồn âm thầm chảy qua thời gian, tựa như hơi thở của đất trời, nuôi dưỡng cả hình hài lẫn tâm hồn của một xứ sở. Sông Hồng ngàn năm đỏ nặng phù sa chính là một dải lụa thiêng liêng như thế – nơi lưu dấu cốt cách của tiền nhân, từng nếp làng cổ kính và những mạch thiêng được gìn giữ qua bao đời bằng sự cẩn trọng và lòng thành kính.

Cuộc sống luôn vận động và hướng về phía trước với những công trình mới, những bản quy hoạch mới. Thế nhưng, sự phồn vinh chỉ thực sự vẹn tròn và bền vững khi hành trình kiến tạo tương lai biết soi chiếu vào cội nguồn, nơi mảnh đất, lòng người và đấng bề trên tìm thấy sự đồng điệu, an hòa.

Những câu thơ lục bát của “Tiếng Vọng Dòng Sông” vì thế cất lên tựa như một lời tâm tình, một khoảng lặng nhỏ để mỗi người nhìn lại và soi bóng mình. Nơi tự tâm ta cùng cảm nhận, bài thơ là sự đồng điệu của những trái tim biết trân trọng cội nguồn, khơi lên lòng can đảm và niềm tự hào để chúng ta cùng gìn giữ hồn thiêng sông núi. Rằng dẫu ở vị trí nào trong đời, xin hãy luôn dành một khoảng sâu trong tâm thức để lắng nghe mạch đất mẹ, giữ cho mình một đôi mắt thấu suốt và một tấm lòng khiêm cung trước những giá trị tôn nghiêm của quê hương...


Tiếng Vọng Dòng Sông 

Sông Hồng đỏ nặng phù sa,

Đâu chỉ dòng nước chảy qua đất này.

Thăng Long mạch chuyển tràn đầy,

Hồn thiêng sông núi tụ dày ngàn năm.

 

Bờ xưa bến cũ âm thầm,

Đình đền miếu cổ khói trầm thiêng liêng.

Mỗi tấc đất, mỗi vùng biên,

Máu xương cốt cách tổ tiên gửi vào.

 

Mở mang quy hoạch tầm cao,

Chớ nhìn bản vẽ tính sao tấc vàng.

Đừng vì lợi ích giàu sang,

Mà đem đánh đổi bao làng tâm linh.

 

Động vào dòng chảy dân sinh,

Dời dân lấp bến sự tình chẳng yên.

Thiếu lòng kính trọng bề trên,

Lòng dân chẳng thuận, chuốc nền họa sâu.

 

Lời xưa ghi tạc từ lâu,

Có kiêng có kính, đậm màu an nhiên.

Giữ tâm giữa chốn đảo điên,

Làm điều đại sự nhớ liền khiêm cung.

 

Kính trời trọng đất tận cùng,

Thuận lòng bách tính, thủy chung giữ gìn.

Hôm nay ích kỷ quên nhìn,

Ngày mai họa đến biết tìm nơi đâu.

 

Muốn cho thịnh vượng bền lâu,

Hài hòa ba cõi bắc cầu tương lai:

Dân an, nước mạnh, đất đai,

Mạch thiêng tôn kính, muôn đời hiển vinh.

 

Chạm vào long mạch anh linh,

Tâm trong ý sáng, trọn tình mới nên.


(Quang Đặng - Biển Nhật Lệ, 16.06.2026)


NẮNG VÀNG TRÀ THƠM

 



NẮNG VÀNG TRÀ THƠM

 

Chiều nay biển vắng nắng vàng,

Bước chân phiêu lãng ghé ngang nơi này.

Phòng Sáu Lẻ Bảy giờ đây,

Gió mây hòa quyện, đong đầy niềm vui.

Vỏ sò, đá cuội đón mời,

Hương trà quấn quýt, đất trời nở hoa.


(Quang Đặng - Biển Nhật Lệ, 16.06.2026)


MẦM ĐỢI

 


MẦM ĐỢI

Giữa chốn thiên nhiên suối thảnh thơi,

Tiếng cười sóng nước rộn chèo bơi.

Hạt xanh đã gửi vào lòng đất,

Hoa nở khi nào... hỡi người ơi?


(Quang Đặng - P607 tại Phương Bắc Luxury Hotel, 16.06.2026)


Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2026

VỊNH TRỤC CẢNH QUAN

 



VỊNH TRỤC CẢNH QUAN

 

Chợ cóc dẹp rồi, thuế ngút tăng,

Dòng sông quy hoạch rối tơ nhằng.

Đường xa cát bụi, xe dồn lối,

Bếp lạnh tro tàn, lửa chẳng hăng.

Ngậm đắng dân cày ngồi trắng mắt,

Trông tiền đất bãi ngóng đóng băng.

Bến cũ trăm năm buồn đứng ngóng,

Đường cao vạn dặm rước ai chăng?


(Quang Đặng - YM, 14.06.2026)


KIÊU HÙNG TRÍ TUỆ VIỆT

 


Tâm tình của một người thầy

Là một người thầy hàng ngày đứng trên giảng đường đại học, trực tiếp tiếp xúc và đồng hành cùng thế hệ trẻ, tôi luôn trăn trở trước mỗi định hướng tư duy dành cho các em. Đề thi Văn nghị luận năm nay với câu hỏi “Làm thế nào để có những ‘Steve Jobs Việt Nam’?” đã dấy lên không ít luồng tranh luận trái chiều.

Thú thực, nhìn từ góc độ khách quan, tôi hoàn toàn không phản đối đề tài này. Chúng ta phải thẳng thắn thừa nhận rằng phần lớn giới trẻ ngày nay – trong đó có các học trò của tôi – đang từng giờ, từng ngày học tập, kết nối và làm việc dựa trên chính những nền tảng công nghệ hiện đại do các nhà phát minh kiệt xuất người Mỹ ấy tạo ra. Việc hướng tầm nhìn ra thế giới để học hỏi khát vọng đổi mới sáng tạo là một điều vô cùng cần thiết trong kỷ nguyên số.

Tuy nhiên, ở một góc nhìn khác của một người làm giáo dục, tôi lại có một niềm đau đáu riêng. Chúng ta cổ vũ con em hướng ra biển lớn, nhưng liệu có quên nhắc các em nhìn lại dòng chảy lịch sử vĩ đại ngay dưới chân mình? Để có được một nền tảng đất nước độc lập, hòa bình và vững chãi cho thế hệ hôm nay thỏa sức sáng tạo công nghệ, lịch sử Việt Nam đã từng chứng kiến những trí tuệ kiêu hùng, những vĩ nhân bằng xương bằng thịt sẵn sàng gác lại vinh hoa phú quý nơi đất khách để về cống hiến trọn đời cho Tổ quốc. Hình tượng người thầy, người trí thức vĩ đại ấy chính là một “tượng đài” bất tử ngay tại quê nhà mà nhà trường cần khơi gợi, để lòng tự hào dân tộc trở thành chiếc neo vững chắc trước khi các em bước ra thế giới.

Xuất phát từ những suy tư ấy, tôi xin chia sẻ bài thơ như một nốt lặng chiêm nghiệm về giá trị của nội lực và tinh thần tự tôn trí tuệ Việt:

 

KIÊU HÙNG TRÍ TUỆ VIỆT

 

Đâu phải hoài công mượn xứ người,

Non sông gấm vóc sẵn thiên tài.

Gác lại vinh hoa rời nước Pháp,

Theo Bác về xây lại ngày mai.

 

Nước mất nhà tan chí chẳng sờn,

Xuất dương nghèo khó vượt tủi hờn.

Mật thám bủa vây lùng mọi bước,

Âm thầm tầm học nợ giang sơn.

 

Chiến khu Việt Bắc dựng công trình,

Vũ khí tầm cao diệt giặc tinh.

Bảo vật phương Tây vào mắt cụ,

“Độ” thành sấm sét giữ hòa bình.

 

Xứ người sẵn máy móc kề bên,

Tay không cụ dựng nghiệp vững bền.

Từ không sáng tạo thành thần tốc,

Pháo đài bay gục, vững móng nền.

 

Hai hai lượng vàng mỗi tháng lương,

Bỏ lại trời Âu dải phố phường.

Chấp nhận gian lao vì Tổ quốc,

Hiến dâng trí tuệ suốt chặng đường.

 

Bên trọng tích lũy lợi kinh doanh,

Cụ dựng nền công quốc bảo thành.

Móng chắc ngàn năm cho đất nước,

Sinh linh, chiến sĩ được hồi sinh.

 

Viện sĩ lừng danh khắp địa cầu,

Tầm vóc hàn lâm phủ bấy lâu.

Chẳng vì công nghệ mưu tài phú,

Vận mệnh giang sơn gánh trên đầu.

 

Có Bác dẫn đường đạo sáng soi,

Đại Nhân Đại Dũng rạng giống nòi.

Đập tan xiềng xích nghìn năm tối,

Mở lối bình minh, nước yên vui.

 

Dẫu biết học đường hướng tầm xa,

Tượng đài xương thịt sẵn quê nhà.

Đạo đức thông tuệ ngời trang sử,

Mong nhắn con em nhớ nước nhà.

 

Giảng đường cần thắp tự hào sâu,

Kính ngưỡng cha ông thuở dãi dầu.

Nước Việt kiêu hùng muôn thuở vững,

Sánh vai thế giới, ngẩng cao đầu!


(Quang Đặng - YM, chiều 14.06.2026)


Tài liệu tham khảo:

1.    https://vast.gov.vn/web/guest/tin-chi-tiet/-/chi-tiet/vai-suy-nghi-ve-thoi-nien-thieu-cua-giao-su-vien-si-tran-%C4%91ai-nghia-29822-1804.html

2. https://vast.gov.vn/web/guest/tin-chi-tiet/-/chi-tiet/mot-hoai-bao-lon-va-con-%C4%91uong-thuc-hien-uoc-mo-che-tao-vu-khi-cua-nguoi-thanh-nien-pham-quang-le-29821-1804.html

3. https://vast.gov.vn/web/guest/tin-chi-tiet/-/chi-tiet/su-binh-di-cua-nha-khoa-hoc-tran-%C4%91ai-nghia-29820-1804.html

4.    https://vast.gov.vn/web/guest/tin-chi-tiet/-/chi-tiet/long-ton-kinh-va-tinh-yeu-thuong-sau-sac-%C4%91oi-voi-me-va-chi-cua-gs-vs-tran-%C4%91ai-nghia-29819-1804.html

5.    https://vast.gov.vn/web/guest/tin-chi-tiet/-/chi-tiet/gia-%C4%91inh-voi-su-hinh-thanh-nhan-cach-cua-giao-su-vien-si-tran-%C4%91ai-nghia-29818-1804.html

6.    https://scov.gov.vn/dong-bao-vnon/guong-mat/tran-dai-nghia-mot-tri-thuc-yeu-nuoc-suot-doi-phung-su-to-quoc.html


Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2026

RẠNG NGỜI ÁNH QUANG KINH CÔNG

 



RẠNG NGỜI ÁNH QUANG KINH CÔNG

 

Ba mươi năm, một chặng dài,

Kinh Công kết tụ nhân tài tứ phương.

Đảng gieo ý chí kiên cường,

Bác truyền ánh sáng soi đường thanh liêm.

Cờ hồng lộng gió uy nghiêm,

Mái trường vững chãi qua miền đổi thay.

 

Ơn Thầy dựng nghiệp từ đây,

Trần Phương - hai tiếng đong đầy tri ân.

Thuở đầu gian khó xoay vần,

Bàn tay chèo lái vượt ngàn bão giông.

Vĩnh Tuy, Từ Sơn một dòng,

Đắp bồi tri thức, thỏa mong tháng ngày.

Mồ hôi thấm mảnh đất này,

Cho mùa quả ngọt vàng lay trĩu cành.

 

Giảng đường tinh luyện chuyên ngành,

Tài năng, trí tuệ lừng danh nước nhà.

Chuyển mình số hóa vươn xa,

Tư duy khai phóng, bao la đất trời.

Ngoại ngữ, Tin học sáng ngời,

Chắp đôi cánh vững, giữa đời tự tin.

“Mùa hè xanh” vạn nẻo tìm,

Dấu chân bám đá, bình minh bản làng.

 

Trống trường rung nhịp rộn vang,

Ngày về đánh thức thuở vàng tuổi xuân.

Sông dài sóng cuộn thời gian,

Trăm dòng về biển, giang san kết đoàn.

Thầy trò son sắt vẹn toàn,

Chung tay gây dựng, ngập tràn ánh quang.

Tự hào vững bước hiên ngang,

Kinh Công tỏa sáng, vẻ vang muôn đời!


(Quang Đặng - YM, 14.06.2026)


Nón Mê

 


Có những vật dụng sinh ra không chỉ để che mưa che nắng, mà để cùng con người đi qua trọn một kiếp nhân sinh. Chiếc nón lá trong thơ chính là một chứng nhân thầm lặng như thế.

Thuở ban đầu, nó thanh tân, trắng phau và mịn màng như đôi mươi son trẻ, từng nghiêng che những cái nhìn duyên dáng của người con gái. Nhưng rồi, đi qua bao dầm sương dãi nắng, gánh gồng cả giông bão cuộc đời, vật dụng ấy đã hóa thành một “nón mê” — chứng tích của những tháng ngày bôn ba, khi vành tre nứt rạn, quai sờn lá gầy, trở thành biểu tượng cho sự tảo tần và dâng hiến đến tận cùng.

Để rồi, ngay cả khi đã lùi vào góc tối do quy luật hoán đổi của thời gian, chiếc nón ấy vẫn chọn một cái kết thật đẹp: hóa thân thành ngọn lửa sưởi ấm buổi chiều đông, nhen lên lòng biết ơn sâu sắc của người ở lại.

Xin trân trọng giới thiệu bài thơ: Nón Mê.


Nón Mê

 

Mưa dầm, nắng dãi, trời say,

Nón mê bạc trắng cạn ngày thanh xuân.

Vành tre nứt rạn nửa phần,

Lá gầy phơi mối nếp hằn thời gian.

 

Nhớ ngày nón mới vừa đan,

Trắng phau sắc lá, mịn màng đường kim.

Theo em nghiêng nón giấu tim,

Vành che khuất cả cái nhìn duyên quê.

Gánh ngàn sợi nắng trưa hè,

Che vai áo ấy lối về đường xa.

Hứng bao mặn chát nhạt nhòa,

Gắng che giông bão vượt qua cuộc đời.

 

Nón nay đã cũ, người ơi!

Quai sờn đã đứt, vành rời ngón tay.

Trần gian nón mới đổi thay,

Bỏ vào góc tối hao gầy tháng năm.

 

Nhện giăng, sương lạnh âm thầm,

Bàn tay xưa cũ chai sần nhặt ra.

Thương tình ngày tháng bôn ba,

Củi khan, nhóm bếp chiều tà gió đông.

 

Lửa nhen từ cọng tre cong,

Khói thơm mùi lá, ấm lòng chiều buông.

Trọn đời dãi nắng dầm sương,

Cháy lòng sưởi ấm, một đường khói bay...


(Quang Đặng - YM, chiều 13.06.2026)


Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2026

Dòng Sông Thi Ca

 


Có những buổi chiều khép lại trang giáo án, tôi một mình đối diện với triền đê sông Hồng lộng gió. Nhìn dòng nước đỏ nặng phù sa miệt mài chảy, lòng tôi chợt gợn lên niềm hoài cảm: Liệu trước những đổi thay của thời cuộc, dòng sông thực tại có còn giữ trọn nét duyên dáng nguyên bản của ngày xưa?

Giữa khoảng lặng suy tư ấy, một mối duyên lành gõ cửa khi tôi tình cờ đọc được dòng tin nhắn của thầy Trần Anh Thơ trong nhóm Zalo CLB Văn Thơ HUBT:

“Trăm năm tuyết trắng mùa đông

Pushkin còn đó như dòng sông thơ”.

Hai câu thơ hiện diện giữa mùa hè Hà Nội chợt đánh thức trong tôi một giao cảm diệu kỳ. Dòng sông hữu hình có thể đổi dòng, nhưng dòng sông thi ca của Aleksandr Pushkin thì vĩnh viễn vẹn nguyên, kiêu hãnh chảy qua mọi băng giá thời gian.

Càng kỳ lạ hơn khi vũ trụ dường như đã sắp đặt một sợi dây liên kết vô hình vượt qua hai thế kỷ: “Mặt trời thi ca Nga” chào đời ngày mùng 6 tháng 6 năm 1799, và dẫu cách biệt trăm năm, tôi cũng được đón ngày sinh của mình vào đúng khoảnh khắc giao hòa này của đất trời. Sự tương phùng định mệnh vào ngày mùng 6 tháng 6 ấy phải chăng chính là tiếng gọi từ quá khứ, thúc giục tôi viết nên bài thơ này?

Từ bến thực sông Hồng, nương theo cánh buồm hoài niệm, tôi xin kính dâng nén tâm hương đồng điệu này lên Người – bậc đại thi hào của Xứ sở Bạch Dương. 

 

Dòng Sông Thi Ca

(Aleksandr Sergeyevich Pushkin: 6/6/1799 - 10/2/1837)

 

Trăm năm tuyết trắng mùa đông,

Pushkin còn đó như dòng sông thơ.

Nước Nga một thuở mộng mơ,

Chở che tiếng mẹ, bến bờ ca dao.

 

Hành trình qua những gian lao,

Lệnh đày viễn xứ, nghẹn ngào Bạch Dương.

Vì danh dự, chẳng nhún nhường,

Hiên ngang phát súng, tạc chương sử ngời.

 

Nước xanh gửi cánh thuyền ai,

Mối tình tinh khiết sáng soi tâm hồn.

Thủy chung son sắt vẹn tròn,

Dẫu đời xa cách, mỏi mòn chẳng phai.

 

Cuộn trào thác dữ dặm dài,

Ngợi ca công lý, miệt mài tự do.

Cánh chim đại úy bơ vơ,

Vượt qua dông bão, đón giờ vẻ vang.

 

Uy nghiêm tượng đá cung vàng,

Ngựa đồng tung vó, rộn ràng kinh đô.

Sông trôi cuộn chảy sóng xô,

Lắng phù sa lại bên bờ dân gian.

 

Bao nhiêu con chữ nồng nàn,

Là bấy nhiêu giọt lệ tràn xót thương.

Thấm vào lòng đất quê hương,

Khơi nguồn mạch sống, vạch đường tương lai.

 

Đài bia không tạc bằng tay,

Mà bằng tiếng hát tràn đầy ngân nga.

Sông thơ chảy mãi bao la,

Ngàn năm cuộn sóng... hồn hòa nhân gian.

 

(Quang Đặng – Bên bến thực sông Hồng, Yên Mỹ, 06.06.2026) 

Vọng bái bậc tiền nhân khi chạm ngưỡng tuổi tri thiên mệnh.


-------------------*****-------------------


Về bài thơ “Dòng Sông Thi Ca” –

Mấy lời thưa lại cùng bạn đọc


1. Cội nguồn và Linh hồn Nga (Khổ 1)

“Tuyết trắng” & “Dòng sông thơ”: Mượn hình ảnh thiên nhiên đặc trưng của Xứ sở Bạch Dương để làm nền, đồng thời ví cuộc đời của Pushkin như một dòng sông chảy mãi cùng thời gian.

 

“Chở che tiếng mẹ, bến bờ ca dao”: Gợi nhắc công lao của Pushkin trong việc gìn giữ và nâng tầm ngôn ngữ Nga. Ông đã đưa lời ăn tiếng nói thuần túy của nhân dân và chất liệu văn hóa dân gian vào thơ ca, tạo nên nền móng cho văn học hiện đại.

 

2. Bi kịch và Khí tiết (Khổ 2)

“Lệnh đày viễn xứ, nghẹn ngào Bạch Dương”: Phản ánh những thăng trầm lịch sử có thật khi nhà thơ bị lưu đày vì tư tưởng tự do, nơi cây bạch dương xứ sở trở thành người bạn chứng kiến nỗi niềm lưu lạc.

 

“Hiên ngang phát súng, tạc chương sử ngời”: Thay vì cái nhìn bi lụy về cái chết, câu thơ tái hiện tư thế chủ động, ngạo nghễ của Pushkin trong trận đấu súng bảo vệ danh dự. Phát súng ấy tuy khép lại một cuộc đời nhưng đã mở ra một chương sử chói ngời, thức tỉnh tinh thần cho các thế hệ sau.

 

3. Những điển tích từ thế giới tác phẩm (Khổ 3, 4, 5)

Các khổ thơ này cố gắng lồng ghép những dấu ấn từ các kiệt tác để đời của ông:

 

“Mối tình tinh khiết... mỏi mòn chẳng phai” (Khổ 3): Gợi cảm hứng từ bài thơ tình bất hủ “Tôi yêu em” – một tình yêu cao thượng, thủy chung, vượt qua mọi sự thử thách gặm nhấm của thời gian xa cách (mỏi mòn) mà không hề phai nhạt.

 

“Cánh chim đại úy bơ vơ... đón giờ vẻ vang” (Khổ 4): Nhắc nhớ đến truyện dài “Con gái viên đại úy”, nơi các nhân vật phải vượt qua dông bão thời cuộc để giữ trọn lòng trung thành, công lý và kiêu hãnh đón nhận giờ phút vinh quang.

 

“Ngựa đồng tung vó... bên bờ dân gian” (Khổ 5): Lấy hình ảnh từ bản trường ca “Kỵ sĩ đồng”. Dù viết về lịch sử, vương quyền hay sự uy nghiêm của "kinh đô", đích đến cuối cùng của dòng sông thi ca Pushkin vẫn là những giá trị nhân văn, phù sa tinh túy bồi đắp ngay bên bờ cuộc sống của nhân dân.

 

4. Sự bất tử của Tình người (Khổ 6, 7)

“Giọt lệ tràn tình thương”: Khẳng định giá trị cốt lõi trong thơ Pushkin chính là lòng nhân ái, nỗi đau đời và sự đồng cảm sâu sắc với số phận con người. Những con chữ ấy thấm vào đất để “vạch đường tương lai” cho văn học và tư tưởng Nga.

 

“Đài bia không tạc bằng tay”: Ý thơ mượn từ bài “Đài kỷ niệm” của chính Pushkin. Những công trình vật chất có thể phai mờ, nhưng đài kỷ niệm bằng “tiếng hát tràn đầy”, bằng tâm hồn tự do trường tồn trong lòng công chúng sẽ luôn “hòa nhân gian” để ngàn năm sóng vỗ.

 

    Lời kết

    Đi từ thiên nhiên Nga vĩ đại đến thế giới kiệt tác bất hủ của Pushkin, bài thơ là một nỗ lực đúc kết hành trình của một tượng đài: Làn tuyết nghiệt ngã năm 1837 chỉ có thể khép lại một cuộc đời hữu hạn, nhưng vĩnh viễn không thể ngăn được dòng sông thi ca mang trọn tấm lòng xót thương và lý tưởng tự do của ông chảy mãi, hòa vào tâm thức nhân gian đến vạn mùa sau.



Tiếng Vọng Dòng Sông

  Có những mạch nguồn âm thầm chảy qua thời gian, tựa như hơi thở của đất trời, nuôi dưỡng cả hình hài lẫn tâm hồn của một xứ sở. Sông Hồng ...