GIA PHONG
Nghĩa vợ tình chồng tựa ngọc son,
Hai con nối mạch nếp gia môn.
Hương lành kết trái thành gia phúc,
Để tiếng mai sau mãi vẫn còn.
QĐ - 31.7.2026
Một người kể chuyện bằng thơ, tản văn, thư và những giai điệu. Gia đình • Mái trường • Ký ức • Tình người. Mong mỗi lần bạn ghé qua đều mang về một chút bình yên. 🌱
GIA PHONG
Nghĩa vợ tình chồng tựa ngọc son,
Hai con nối mạch nếp gia môn.
Hương lành kết trái thành gia phúc,
Để tiếng mai sau mãi vẫn còn.
QĐ - 31.7.2026
HỘI NGỘ TÌNH THÂN
Hoa nở quanh người lặng tỏa hương,
Hai dòng ánh mắt một con đường.
Chưa lời, khách đã gần thêm khách,
Chưa nhạc, lòng đà quyện với thương.
Ý nhẹ nâng đầy bao nụ cười,
Duyên thầm kết chặt mọi quê hương.
Đến khi hội mãn không ai nhắc,
Chỉ nhớ tình thân vẫn vấn vương.
Yên Mỹ - 31.7.2026
Quang Đặng
ĐẤT NỞ MÙA XANH
Có người gửi tuổi vào lòng đất,
Để gió về mang sắc lúa non.
Một vệt phù sa còn lặng chảy,
Nuôi đầy bóng mát đến vuông tròn.
Dòng sông không nhớ tên người cũ,
Chỉ nhớ mùa cây biết trổ cành.
Đất lặng nghìn năm không một tiếng,
Mỗi xuân lại nở một màu xanh.
Đêm nghiêng ngọn đèn lên trang giấy,
Mực chạm âm thầm tới tháng năm.
Có hạt nằm im trong bóng tối,
Chờ ngày rễ nhỏ chạm mưa ngầm.
Một nhịp cầu cong qua bến vắng,
Nối hai bờ chẳng nói điều chi.
Chỉ nước lững lờ ôm bóng núi,
Mà trời rộng đến tận lòng người.
Mai có đi qua ngàn gió lạ,
Xin mang theo một hạt quê nhà.
Biết đâu giữa một miền xa lắc,
Lại mọc thêm mùa lúa đơm hoa.
Nếu hóa chiếc lá trên cành cũ,
Xin rơi thành đất dưới chân người.
Sang xuân, ai bước qua không biết,
Chỉ thấy mầm xanh nhú giữa đời.
Yên Mỹ, ngày 30.7.2026
Quang Đặng
NẮNG VÀNG NHÀ A
Nắng
vàng rót kín Nhà A,
Tiếng cười khâu những tháng ngày đắm say.
Bốn
mươi độ nắng đổ đầy,
Mồ hôi lấp lánh như bầy sao rơi.
Váy
hoa chạm gió chơi vơi,
Mỗi vòng xoay nở một trời thanh xuân.
Hành
lang níu những bước chân,
Nửa phần cơm sẻ hóa gần yêu thương.
Ống
kính lặng giữ vấn vương,
Gom bao ánh mắt còn vương nắng vàng.
Dẫu
chưa chạm đỉnh vinh quang,
Sắc cờ vẫn thắm, niềm tin vẫn hồng.
Mai
này đèn sáng mênh mông,
Mỗi người một cánh chim hồng bay xa.
Riêng
còn một góc Nhà A,
Nắng hong ký ức như là hôm qua.
Thanh
xuân chẳng ở lời ca,
Mà trong ánh mắt chan hòa yêu thương.
Mai
này ngoảnh lại con đường,
Nắng vàng vẫn ở — như thường — trong tim.
(Quang
Đặng – YM, 10.06.2026)
SẮC XUÂN TRÊN ĐỒNG QUÊ
Thơ THUẬN NGHỊCH ĐỘC
Đọc xuôi
Vàng vàng nắng én cánh
nghiêng chao
Phơi phới bay bay bướm lượn
chao
Làng xóm đẹp mây trời tím
biếc
Bãi đồng xanh sóng cuộn ào
ào
Giàn cà chín đỏ hồng hồng
sắc
Ruộng cải hoa vàng ánh ánh
sao
Ngàn gió lộng quê hương ấm
nắng
Tràn say sắc thắm cảnh
dâng trào
Đọc ngược (Từ dưới lên)
Trào dâng cảnh thắm sắc
say tràn
Nắng ấm hương quê lộng gió
ngàn
Sao ánh ánh vàng hoa cải
ruộng
Sắc hồng hồng đỏ chín cà
giàn
Ào ào cuộn sóng xanh đồng
bãi
Biếc tím trời mây đẹp xóm
làng
Chao lượn bướm bay bay phơi phới
Chao nghiêng cánh én nắng
vàng vàng
Xuân Kỷ Mão (1999)
Hữu Nghĩa
BÔNG
MẾU!
Vừa sang tới nước Nga,
Đã mếu như mưa sa.
Máy bay vừa hạ cánh,
Cả nhà thương vỡ òa!
Mẹ ôm con khẽ hỏi:
“Con nhớ ai nhất nào?”
Bông sụt sùi đáp nhỏ:
“Ai con cũng nhớ cả...”
Nhớ bác rồi nhớ cô,
Nhớ chú cùng nhớ thím.
Nhớ các anh các chị,
Nhớ cả đàn em xinh.
Nhớ vòng tay ấm áp,
Nhớ tiếng cười rộn vang.
Nhớ mâm cơm sum họp,
Nhớ sân nhà ríu ran.
Tin vừa về tới nhà,
Cả nhà đều xôn xao.
Ai nghe Bông mếu khóc,
Cũng thấy thương biết bao.
Có người còn cười bảo:
“Khóc ít thôi Bông à!
Năm sau còn về nữa,
Kẻo cả nhà khóc nha!”
Việt Nam là nhà nhé,
Nga chắp cánh ngày mai.
Hai quê chung một ngõ,
Một tình thân chẳng phai.
Chúc Bông luôn chăm
học,
Mắt sáng tựa sao trời.
Lớn lên giàu nhân ái,
Đẹp như nụ cười tươi.
Chúc anh Vinh, chị
Nga,
Bốn mùa đều nở hoa.
Gia đình luôn mạnh khỏe,
An vui khắp mái nhà.
Thành công luôn
rộng mở,
Bình an mãi dài lâu.
Chia tay là rưng
rưng,
Đoàn viên là tiếng cười.
“Ai
con cũng nhớ cả...”
Thế là đủ... Bông ơi!
Yên
Mỹ, đêm 30.7.2026
Quang
Đặng
Lời bình ca khúc “Côn Lôn bát
ngát thành sương”
Có
những miền đất, chỉ một lần gọi tên thôi cũng đủ khiến lòng người chùng xuống.
Côn
Đảo là một miền đất như thế.
Giữa
trùng khơi, nơi biển xanh vẫn miệt mài xô sóng vào bờ, nơi hàng dương đứng
trong gió như những người lính canh thầm lặng, lịch sử dường như chưa bao giờ
thật sự lùi xa. Nó vẫn hiện diện trên từng triền núi, từng con đường, trong mỗi
lớp sương sớm và cả những khoảng lặng sâu xa của lòng người đến sau.
Từ
miền đất thiêng ấy, Côn
Lôn bát ngát thành sương cất lên như một nén tâm hương kết bằng thơ
và nhạc.
Ngay
từ nhan đề, danh xưng cổ “Côn Lôn” đã mở ra một khoảng lùi thăm thẳm, nơi hiện
thực lịch sử giao hòa cùng sắc màu huyền thoại. Không chỉ là một địa danh giữa
biển Đông, Côn Lôn hiện lên như miền thẳm sâu của tâm tưởng — nơi năm tháng có thể
phủ mờ dấu tích, nhưng không thể xóa nhòa những dấu chân, những lời thề và
những cuộc đời đã gửi lại cùng non sông.
“Bát
ngát thành sương” là một hình ảnh vừa mênh mang vừa ám ảnh. “Bát ngát” mở rộng
biển trời đến vô cùng; “thành sương” lại làm lắng sâu những tầng năm tháng. Màn
sương ấy không chỉ phủ lên núi non, cây cỏ, mà còn ôm lấy bao mất mát đã đi
qua, khiến đau thương không hiện ra bằng những đường nét dữ dội, mà thấm vào
lòng người bằng một nỗi buồn trầm tĩnh và thiêng liêng.
Trong
ca khúc, thiên nhiên không đứng ngoài lịch sử. Biển mang bóng hình của những
tháng năm xa khuất. Sóng như nhịp thời gian vọng mãi giữa trùng khơi. Gió là
tiếng gọi trở về từ quá khứ. Hàng dương, mây trắng, sắc hoa, ánh nắng đều như
có linh hồn, lặng lẽ kể chuyện về những con người đã sống, chiến đấu và ngã
xuống nơi đây.
Điều
đáng quý là tác giả không lựa chọn những hình ảnh quen thuộc của gông cùm, máu
lửa hay pháp trường để nói về mất mát. Anh không đưa cảm xúc đến tận cùng bi
lụy. Anh chọn hoa, chọn nắng, chọn mây sương, chọn sắc xanh của hàng dương và
vẻ thanh khiết của những cánh sen.
Đó
là một lựa chọn nghệ thuật đầy tinh tế: lấy cái đẹp để nâng đỡ đau thương, lấy
ánh sáng để nhớ về những cuộc đời từng đi qua bóng tối, lấy sự trong trẻo của
thiên nhiên để tôn lên khí phách bất khuất của con người.
Bởi
vậy, những người chiến sĩ trong ca khúc không hiện lên như những phận đời bị
chôn vùi trong đau khổ, mà như những con người đã vượt qua cái chết để trở
thành một phần của non sông. Thể xác có thể từng bị giam cầm, nhưng tinh thần
thì không. Sinh mệnh có thể khép lại, nhưng lý tưởng vẫn tiếp tục soi đường.
Qua ngôn ngữ của thi ca và âm nhạc, mất mát không còn là điểm tận cùng, mà lặng
lẽ hòa vào dáng hình đất nước.
Trong
mạch cảm xúc ấy, nữ anh hùng Võ Thị Sáu hiện lên sáng trong giữa miền sương
khói. Chị trở về không chỉ trong câu chuyện về một tuổi xuân đã hiến dâng cho
Tổ quốc, mà còn trong hoa, trong nắng, trong màu xanh của đất trời Côn Đảo.
Người con gái năm xưa đã bước qua cái chết khi tuổi đời còn rất trẻ để tên mình
ở lại với lịch sử, như một mùa xuân không tuổi trong tâm thức dân tộc.
Ca
khúc vì thế mang âm hưởng của một khúc tráng ca, nhưng không cất lên bằng sự dữ
dội. Vẻ trang nghiêm của tác phẩm không được tạo nên bởi những lời ca lớn tiếng
hay cảm xúc phô bày, mà lan tỏa từ độ lắng của giai điệu và chiều sâu của ca
từ. Âm nhạc mở ra một khoảng trời mênh mang, đưa ta đi qua biển cả, mây sương,
hàng dương, rồi khẽ dừng lại trước những linh hồn đã hòa vào đất mẹ.
Chính
từ khoảnh khắc ấy, tráng ca không còn chỉ là lời ngợi ca, mà lắng xuống thành
một niềm tĩnh niệm — trầm mặc, thành kính và sâu xa.
Có
những cao trào lay động lòng người bằng sự mãnh liệt. Nhưng cũng có những giai
điệu khiến ta rung lên bởi chính sự tiết chế. Côn Lôn bát ngát thành sương thuộc về cách
biểu đạt thứ hai. Nỗi đau không bật thành tiếng khóc. Lòng tri ân không cần phô
thành lời. Tất cả được nén lại để dư ba còn ngân mãi sau khi tiếng hát đã dừng.
Nguyễn
Văn Long vốn được biết đến trước hết như một nhà thơ, một nhà giáo, người luôn
dành nhiều tâm huyết cho văn hóa, lịch sử và những giá trị bền sâu của dân tộc.
Trong thơ anh thường có một mạch thiền nhẹ, một sự hướng về cội nguồn, gia
phong, tiền nhân và những giá trị chân – thiện – mỹ. Viết, với anh, dường như
cũng là cách gìn giữ cho tâm hồn một khoảng trong trẻo giữa bộn bề cuộc sống.
Nguồn
mạch ấy đã chảy tự nhiên vào Côn
Lôn bát ngát thành sương.
Bởi
thế, ca từ của tác phẩm không mang dáng dấp của một bản diễn ca lịch sử thông
thường. Nó giống một dòng hồi tưởng đã được năm tháng chưng cất, vừa có chiều
sâu suy tưởng, vừa giữ được độ mềm mại của thi ca. Ta không chỉ nghe một bài
hát về Côn Đảo, mà như đang lặng lẽ đi giữa những lớp thời gian, nơi mỗi ngọn
gió cũng có thể gọi dậy một cái tên.
Và
sau tất cả, đọng lại không phải là nỗi bi thương, mà là niềm tự hào.
Tự
hào vì giữa những năm tháng khắc nghiệt nhất, con người Việt Nam vẫn giữ trọn
khí phách, niềm tin và tình yêu Tổ quốc. Tự hào vì từ những ngục tù chật hẹp,
một tinh thần rộng lớn đã vượt lên mọi giam hãm, đi qua bao biến thiên để soi
sáng các thế hệ hôm nay.
Bài
hát cũng nhắc ta rằng hòa bình chưa bao giờ là một món quà tự nhiên có sẵn.
Phía sau mỗi ngày yên ả là biết bao tuổi trẻ đã nằm lại. Phía sau mỗi con sóng
thanh bình của Tổ quốc là những cuộc đời đã gửi mình vào biển, vào đất, vào cây
cỏ quê hương.
Có
những địa danh chỉ nằm lại trên bản đồ. Có những địa danh được tạc vào lịch sử.
Nhưng cũng có những địa danh vượt qua giới hạn của không gian và năm tháng để
sống mãi trong tâm thức dân tộc bằng thi ca, bằng giai điệu và bằng lòng thành
kính của muôn thế hệ.
Côn
Lôn là một miền linh thiêng như thế.
Để
mỗi khi Côn Lôn bát ngát
thành sương ngân vang, ta lại thấy mây còn bay trên biển, hàng
dương còn reo trong gió, những cánh sen vẫn lặng lẽ nở giữa miền tưởng niệm. Và
ta hiểu rằng có những con người, khi khép lại cuộc đời hữu hạn, lại bắt đầu một
sự sống khác — trong lịch sử, trong âm nhạc và trong nhịp đập muôn đời của Tổ
quốc.
Yên Mỹ, ngày 30.7.2026
Quang Đặng
LƯỢM – CÒN MỘT
BƯỚC CHÂN
Đọc lại “Lượm” của Tố
Hữu nhân tháng Bảy tri ân
Chiều nay trẻ nhỏ tan trường sớm,
Nắng rắc vàng lên khắp cánh đồng.
Chợt gió lật trang thơ cũ ấy,
Lòng nghe chân nhỏ động mùa bông.
Loắt choắt dáng em còn trước mắt,
Ca-lô đội lệch đẫm màu trời.
Xắc nhỏ đung đưa qua khói lửa,
Hồn nhiên như thể chẳng bom rơi.
Một thoáng Hàng Bè vừa gặp gỡ,
Một lời từ biệt hóa thiên thu.
“Ra thế...” hai âm chìm gió lặng,
Mà đau hơn vạn tiếng nghẹn ngào.
Thư “Thượng khẩn” ôm bên ngực nhỏ,
Đồng quê thơm ngát lúa đòng đòng.
Một chớp lửa bừng ngang bãi vắng,
Em nằm còn nắm chặt mùa bông.
Từ ấy hương đồng không cũ nữa,
Mỗi mùa lúa sữa ngát quê hương.
Bước chân em hóa hồn sông núi,
Đi cùng Tổ quốc đến muôn phương?
Ai hỏi hôm nay: “Còn không, Lượm?”
Xin nhìn lúa biếc dưới trời trong.
Giữa ngàn tiếng trẻ tan trường ấy,
Vẫn nghe chân nhỏ động mùa bông.
Yên Mỹ - 27.7.2026
Quang Đặng
“Danh
dự là điều thiêng liêng, cao quý nhất.”
— Nguyễn Phú Trọng —
Có những câu nói chỉ để nhớ.
Có những câu nói để sống.
Mỗi lần đọc lại lời ấy của cố Tổng
Bí thư Nguyễn Phú Trọng, tôi không nghĩ mình đang đọc một câu danh ngôn. Tôi có
cảm giác đó là lời ông tự nhắc mình trong suốt một cuộc đời.
Và có lẽ, chính câu
nói ấy đã giải thích vì sao, sau khi ông đi xa, điều còn ở lại trong lòng nhiều
người không chỉ là một chức danh, mà là một nhân cách.
Tôi biết đến ông
trước hết qua một hình ảnh rất quen thuộc: mái tóc bạc, cặp kính giản dị, nụ
cười hiền và dáng người nhỏ nhắn.
Mỗi lần ông đứng
trước bục phát biểu, sau hai chiếc micro quen thuộc, tôi luôn có cảm giác đang
lắng nghe một người thầy hơn là một chính khách. Giọng nói chậm rãi, từng câu
chữ như được cân nhắc kỹ trước khi cất lên. Ông không chinh phục người nghe
bằng sự hùng biện, mà bằng sự điềm đạm.
Có lẽ điều ấy bắt
đầu từ chính con đường ông đã đi.
Ông từng làm báo,
nghiên cứu, giảng dạy.
Ở ông luôn thấp
thoáng dáng dấp của một người cầm phấn nhiều hơn một người quen với hào quang.
Có những người bước
lên vị trí cao rồi mới học cách gần dân.
Còn ở ông, sự gần
gũi dường như đã có từ trước.
Tôi chưa từng có cơ
hội gặp ông.
Nhưng qua những lần
ông về với quê hương, đi giữa bà con, bắt những bàn tay rám nắng hay cúi xuống
trò chuyện với người dân, tôi luôn thấy ở ông một sự chân thành rất tự nhiên.
Không phải thứ giản
dị được lựa chọn để người khác nhìn thấy.
Mà là sự giản dị đã
trở thành nếp sống.
Có lẽ vì thế, giữa
rất nhiều điều có thể nói về ông, người ta vẫn nhớ nhiều đến một điều tưởng như
rất bình thường: ông sống mực thước.
Nếu phải chọn một
chữ để nói về con người ấy, tôi sẽ chọn chữ “Trong”.
Trong ở suy nghĩ.
Trong ở cách sống.
Trong đến mức, đi
qua rất nhiều vinh quang mà không để vinh quang làm đổi khác mình.
Điều khiến tôi xúc
động hơn cả lại nằm phía sau ông.
Là gia đình.
Đằng sau một người
dành phần lớn cuộc đời cho việc nước luôn là một mái nhà chấp nhận những khoảng
trống.
Những bữa cơm có
thể vắng một người.
Những ngày Tết chưa
kịp đoàn viên.
Những cuộc sum họp
phải nhường chỗ cho công việc.
Tôi nghĩ nhiều đến
người bạn đời đã lặng lẽ đồng hành cùng ông.
Có những hy sinh
không bao giờ được ghi trong diễn văn hay lịch sử.
Chúng chỉ ở lại
trong căn bếp nhỏ, trong ánh đèn chờ khuya, trong sự cảm thông của những người
thân hiểu rằng có những trách nhiệm luôn phải đặt lên trước.
Điều khiến tôi càng
thêm kính trọng là suốt bao năm tháng, người ta gần như không biết nhiều về gia
đình ông.
Không phải vì họ ở
xa cuộc sống.
Mà vì họ chưa bao
giờ bước ra để mượn ánh hào quang của ông.
Một gia đình ở rất
gần đỉnh cao quyền lực nhưng vẫn chọn đứng phía sau.
Sự lặng lẽ ấy, với
tôi, đẹp biết bao.
Nhìn ông, tôi
thường nghĩ đến Hà Nội.
Không ồn ào.
Không vội vã.
Trầm tĩnh như mặt
nước Hồ Gươm mỗi sớm.
Càng lặng càng sâu.
Có lẽ một con người
cũng vậy.
Không cần nhiều lời
để người khác nhớ.
Một đời người rồi
cũng hữu hạn.
Những căn phòng làm
việc sẽ có người khác ngồi.
Những trang lịch sử
sẽ tiếp tục được viết.
Chỉ có cách sống là
còn ở lại.
Nó ở trong ký ức
của những người từng gặp.
Trong những câu
chuyện cha mẹ kể cho con.
Trong một nụ cười
hiền sau cặp kính.
Trong một dáng
người tóc bạc đã trở nên quen thuộc với hàng triệu người Việt Nam.
Và đôi khi, nó chỉ
ở lại bằng một cảm giác rất lạ.
Rằng sau khi nghĩ
về một con người, ta bỗng muốn sống tử tế hơn, muốn ngay thẳng hơn, muốn giữ
gìn danh dự của chính mình hơn.
Người ta có thể đo
một cuộc đời bằng chức vụ, bằng quyền lực, bằng những dấu mốc lịch sử.
Còn tôi, tôi muốn
đo cuộc đời ấy bằng điều khác.
Bằng những gì còn ở
lại trong lòng người.
Để rồi nhiều năm
sau, khi nhắc đến Nguyễn Phú Trọng, có lẽ người ta sẽ không chỉ nhớ đến một vị
Tổng Bí thư.
Người ta sẽ nhớ đến
một người thầy.
Một người chồng.
Một người cha.
Một người đã đi qua
những đỉnh cao của cuộc đời mà vẫn giữ nguyên nếp sống bình dị.
Và hơn tất cả, là
một con người đã sống đúng như điều mình từng nói: “Danh dự là điều thiêng liêng, cao
quý nhất.”
Có lẽ, đó cũng là
di sản đẹp nhất ông để lại.
Không phải để người
đời ngước nhìn.
Mà để người đời soi
mình.
Để mỗi chúng ta,
trong những lựa chọn của riêng mình, đều tự hỏi:
Liệu
mình đã sống xứng với danh dự của chính mình chưa?
Nếu một ngày nào
đó, câu hỏi ấy còn được nhắc lại, thì tôi tin ông vẫn còn ở đó.
Không chỉ trong
lịch sử.
Không chỉ trong ký
ức.
Mà trong cách người khác lựa chọn để sống.
Một
đời trong.
Tân Tây Đô, ngày 30.7.2026
Quang Đặng
Có những bài thơ đi cùng ta từ thuở bé.
Ngày ấy, ngồi trong lớp học, ta đọc “Lượm”
bằng giọng trong veo của một đứa trẻ. Ta thích chú bé “loắt choắt”, thích “cái
xắc xinh xinh”, thích đôi chân “thoăn thoắt”, chiếc ca-lô đội lệch và tiếng
huýt sáo vang. Trong trí tưởng tượng non nớt ngày ấy, Lượm giống như một cậu
bạn tinh nghịch đang chạy đâu đó trên con đường đầy nắng.
Ta thuộc thơ.
Nhưng có lẽ khi ấy, ta chưa hiểu hết thơ.
Nhiều năm trôi qua. Tháng Bảy lại về. Giữa
những ngày cả nước lặng lòng tưởng nhớ những người đã ngã xuống, tôi mở lại
“Lượm” của Tố Hữu.
Vẫn những câu thơ năm cũ:
“Ngày
Huế đổ máu
Chú Hà Nội về
Tình cờ chú cháu
Gặp nhau Hàng Bè...”
Chỉ có người đọc không còn là đứa trẻ năm
nào.
Và bỗng thấy những câu thơ quen thuộc buồn
đến nao lòng.
Lượm bước vào bài thơ chẳng có dáng vẻ của
một người anh hùng.
Em chỉ là một chú bé nhỏ nhắn:
“Chú
bé loắt choắt
Cái xắc xinh xinh
Cái chân thoăn thoắt
Cái đầu nghênh nghênh...”
Tố Hữu chỉ cần vài nét mà Lượm đã hiện ra
thật sống động: chiếc ca-lô đội lệch, đôi má đỏ bồ quân, nụ cười híp mí, tiếng
huýt sáo vang. Em hồn nhiên đến mức công việc giao liên giữa những ngày bom đạn
cũng được kể bằng một niềm vui rất trẻ thơ:
“Cháu
đi liên lạc
Vui lắm chú à
Ở đồn Mang Cá
Thích hơn ở nhà!”
Càng lớn, đọc đến hai chữ “vui lắm”, tôi càng
thương.
Bởi em đâu phải người lính đã trưởng thành.
Em vẫn là một đứa trẻ ở cái tuổi đáng lẽ được đến trường, được chạy chơi trên
những con đường làng, được trở về nhà mỗi chiều bên cha mẹ.
Nhưng đất nước có chiến tranh.
Và có những thế hệ đã phải lớn lên trước
tuổi.
Lượm là một trong những đứa trẻ như thế.
Cuộc gặp gỡ giữa hai chú cháu diễn ra chóng
vánh. Lượm cười, chào:
“Thôi, chào đồng chí!”
Rồi:
“Cháu
đi đường cháu
Chú lên đường ra...”
Một người đi một hướng.
Không ai biết đó lại là một cuộc chia tay
mãi mãi.
Đời người có những lần từ biệt như vậy. Khi
chia tay, ta vẫn nghĩ rồi sẽ gặp lại. Vẫn quay lưng bước đi bình thường. Để đến
nhiều năm sau mới hiểu rằng có một bóng người đã ở lại vĩnh viễn phía sau mình.
Tin dữ đến bằng mấy câu thơ ngắn:
“Đến
nay tháng sáu
Chợt nghe tin nhà.
Ra
thế,
Lượm ơi!”
Tôi luôn thấy hai chữ “Ra thế” là một
trong những khoảng lặng đau nhất của bài thơ.
Không một lời than dài.
Chỉ như một người vừa nghe tin dữ, đứng
lặng đi, không biết nói gì ngoài việc gọi tên người đã mất:
Lượm ơi!
Và từ đó, chuyến giao liên cuối cùng của em
hiện về.
Em mang thư “Thượng khẩn”, lao qua mặt
trận.
Đạn bay vèo vèo.
Em vẫn chạy.
Phía trước là nhiệm vụ. Sau lưng có thể là
cái chết.
Rồi khung cảnh bỗng yên đến lạ:
“Đường
quê vắng vẻ
Lúa trổ đòng đòng
Ca-lô chú bé
Nhấp nhô trên đồng...”
Một cánh đồng đang vào mùa.
Lúa đang trổ đòng.
Một chú bé đang chạy giữa màu xanh của quê
hương.
Nếu không có chiến tranh, đó hẳn chỉ là một
buổi chiều rất đẹp.
Nhưng rồi…
“Bỗng
lòe chớp đỏ
Thôi rồi, Lượm ơi!”
Mọi thứ dừng lại.
Tiếng chân dừng lại.
Tiếng huýt sáo dừng lại.
Chiếc ca-lô không còn nhấp nhô giữa đồng.
Chỉ còn:
“Cháu
nằm trên lúa
Tay nắm chặt bông
Lúa thơm mùi sữa
Hồn bay giữa đồng...”
Bao năm rồi, tôi vẫn nghĩ đây là những câu
thơ vừa đẹp, vừa đau đến tận cùng.
Em nằm giữa lúa.
Bàn tay nhỏ vẫn nắm một bông lúa đang thơm
mùi sữa.
Một bên là cái chết.
Một bên là sự sống đang căng đầy.
Một đứa trẻ ngã xuống giữa cánh đồng để rồi
biết bao đứa trẻ mai sau được lớn lên giữa những mùa lúa bình yên.
Có lẽ phải đi qua nhiều năm tháng, người ta
mới hiểu hết cái giá của hai chữ hòa
bình.
Hòa bình là sáng mai con trẻ khoác cặp đến
trường.
Là người mẹ đứng trước cửa đợi con về mà
không sợ một ngày nhận tin dữ.
Là cánh đồng chỉ có tiếng gió và mùi lúa
chín, không có tiếng đạn xé ngang trời.
Những điều hôm nay bình thường đến mức đôi
khi ta quên mất rằng đã có những người đánh đổi cả tuổi thanh xuân, thậm chí cả
cuộc đời, để giữ lấy.
Năm 2026, đất nước kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ.
Bảy mươi chín năm.
Một quãng thời gian đủ dài để nhiều dấu
tích chiến tranh phủ màu rêu cũ; đủ dài để những thế hệ sinh ra sau hòa bình
chỉ biết tiếng bom qua sách vở, phim ảnh và lời kể của ông bà.
Nhưng có những điều không thể cũ.
Lòng biết ơn là một trong số đó.
Bởi phía sau cuộc sống hôm nay là biết bao
người đã mãi mãi dừng lại ở tuổi hai mươi, mười tám, mười sáu... Có những người
khi nằm xuống còn rất trẻ.
Trẻ như Lượm.
Đọc lại bài thơ trong tháng Bảy này, tôi
bỗng hình dung một khuôn hình rất chậm.
Chiều xuống trên một cánh đồng.
Gió lướt qua những ngọn lúa.
Mặt trời cuối ngày rót một màu vàng nhạt
xuống con đường quê.
Xa xa, hình như có một chú bé đang chạy.
Chiếc xắc nhỏ đung đưa bên mình.
Chiếc ca-lô đội lệch.
Đôi chân thoăn thoắt.
Rồi em quay lại.
Cười híp mí.
Một cái vẫy tay rất nhanh.
Và chạy tiếp.
Chạy mãi về phía cuối cánh đồng.
Bóng em nhỏ dần.
Nhỏ dần...
Rồi hòa vào màu vàng của lúa.
Tôi muốn gọi:
Lượm!
Nhưng giữa cánh đồng chỉ còn tiếng gió.
Bảy mươi chín năm trước, có những người đã
ra đi như thế. Không kịp già. Không kịp sống hết những tháng năm đẹp nhất của
đời mình. Không kịp nhìn thấy đất nước vào ngày hòa bình.
Còn chúng ta hôm nay đang được sống tiếp
phần đời mà họ đã gửi lại.
Bởi vậy, mỗi ngày bình yên ta đang có đều
mang trong đó một món nợ của lòng biết ơn.
Tố Hữu từng hỏi:
“Lượm ơi, còn không?”
Ngày bé, tôi cứ nghĩ đó là câu hỏi dành cho
một chú bé đã hy sinh.
Bây giờ đọc lại, tôi chợt hiểu dường như
câu hỏi ấy còn dành cho cả những người đang sống.
Lượm có còn trong ký ức chúng ta
không?
Những người đã ngã xuống có còn được nhắc
tên không?
Những hy sinh của cha anh có còn được những
thế hệ sau gìn giữ khi chiến tranh đã lùi rất xa?
Ngoài kia, chiều tháng Bảy đang xuống.
Một cánh đồng lúa lại trổ đòng.
Trên con đường làng, vài đứa trẻ ríu rít
đạp xe về nhà.
Không tiếng súng.
Không đạn bay vèo vèo.
Không còn những lá thư “Thượng khẩn” phải
gửi qua mặt trận.
Chỉ có tiếng trẻ cười trong gió.
Có lẽ đó chính là câu trả lời đẹp nhất.
Tôi khép trang sách.
Nhưng kỳ lạ thay, chú bé trong bài thơ vẫn
chạy.
Vẫn cái xắc xinh xinh.
Vẫn chiếc ca-lô đội lệch.
Vẫn đôi chân thoăn thoắt trên con đường
vàng.
Phía xa, bóng em hòa dần vào cánh đồng.
Và từ đâu đó giữa mùi lúa thơm mùi sữa, câu
hỏi năm xưa lại vọng về, rất khẽ:
“Lượm ơi, còn không?”
...
Còn.
Chừng nào trên đất nước này những đứa trẻ
còn được bình yên đến trường;
chừng nào những cánh đồng còn xanh dưới một
bầu trời không tiếng súng;
chừng nào chúng ta còn biết cúi đầu trước
những người đã ngã xuống và kể cho con cháu mình nghe hòa bình đã được đánh đổi
bằng điều gì -
thì Lượm vẫn còn.
Em không còn chạy giữa làn đạn nữa.
Em đang chạy giữa hòa bình.
Và phía sau bước chân em
là Tổ quốc.
Yên Mỹ, ngày 27.7.2026
Quang Đặng
GIA PHONG Nghĩa vợ tình chồng tựa ngọc son, Hai con nối mạch nếp gia môn. Hương lành kết trái thành gia phúc, Để tiếng mai sau mãi vẫn ...