Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2026

GỐC ĐÊ VÀ CỬA SÓNG

 



Có những ký ức không bao giờ phai màu. Chúng nằm yên như một thước phim cũ, không ồn ào, không vội vã — chỉ đợi một ánh nhìn chạm khẽ là bừng sáng. Câu chuyện của tôi không bắt đầu từ những giảng đường xa hoa, mà từ mùi đất phù sa sông Hồng sau mỗi mùa nước đổ — thứ mùi vừa nồng, vừa ấm, như giữ lại trong đó cả một tuổi thơ chưa kịp gọi tên.

Tôi của năm tháng ấy là một cậu bé chăn trâu, nhỏ bé giữa bãi vắng. Thế giới khi ấy không rộng hơn triền đê phủ cỏ may, không xa hơn lũy tre làng xanh ngắt, không sâu hơn tiếng nghé ngọ gọi nhau lúc chiều xuống. Nhưng có một điều mà chính tôi cũng không hiểu: giữa cái bình yên ấy, trong lòng một đứa trẻ lại luôn có một nỗi “vẫy vùng” rất khẽ.

Tôi thường đứng trên đê, nhìn con sông chảy mãi về phía không tên, và tự hỏi — bên kia dòng nước ấy, thế giới rộng đến đâu?

Bên sông cậu thả thơi lòng,
Chăn trâu bãi vắng, ngược dòng mây trôi.
Có khi gió thốc ngang trời,
Mang theo một thoáng — gọi mời đi xa.

Hành trình ấy chưa bao giờ bằng phẳng. Khi mới sáu tháng tuổi, tôi đã đi qua một ca phẫu thuật mà sau này người lớn kể lại như một lằn ranh mong manh giữa có và không. Vết sẹo còn lại trên cơ thể không lớn, nhưng đủ để tôi mang theo suốt đời — không phải như một dấu tích của đau đớn, mà như một lời nhắc âm thầm: mình đã từng yếu ớt đến thế, và cũng đã từng vượt qua.

Có lẽ chính từ đó, trong tôi hình thành một thứ sức bền lặng lẽ. Không phải là sự mạnh mẽ ồn ào, mà là một niềm tin rất nhỏ nhưng không tắt — rằng con người ta, nếu không buông mình, thì luôn có thể đi tiếp.

Rồi một ngày, cậu bé đứng trên triền đê năm nào bước ra khỏi lũy tre làng. Bristol đón tôi bằng những con đường lát đá ẩm lạnh, những chiều gió thổi hun hút qua những dãy nhà mang dấu vết thời gian. Ngồi trên tầng hai của chiếc xe buýt đỏ, tôi nhìn thành phố trôi qua — đẹp, cổ kính, và… xa lạ.

Có những đêm mùa đông, tôi ngồi một mình bên cửa sổ, tay lật từng trang Shakespeare mà lòng lại trôi về một bãi sông nào đó rất xa. Giữa những câu chữ kinh điển và một nỗi nhớ không gọi thành tên, tôi hiểu ra một điều giản dị: đi xa không phải lúc nào cũng là để khám phá thế giới, mà đôi khi là để nhận ra mình đã thuộc về đâu từ rất lâu rồi.

Lời của cô Helen, giáo viên dạy môn Văn hóa Anh, vẫn theo tôi đến tận bây giờ:

“Học không chỉ để gặt hái thành công, mà còn để trở thành một con người giàu lòng trắc ẩn.”

Thầy đi lặng lẽ tháng năm,
Ươm mầm con chữ, âm thầm sớm khuya.
Đò đưa tri thức sang kia,
Có khi chẳng biết — người về hay không.

Ngày trở về, tôi không mang theo điều gì lớn lao. Chỉ là một cảm giác rõ ràng hơn về con đường mình đang đi. Từ cậu bé chăn trâu năm nào đến người đứng trên bục giảng hôm nay, đó không phải là một bước nhảy, mà là một hành trình dài — đi qua phù sa, đi qua sóng gió, và đi qua chính những giới hạn của bản thân.

Nếu một ngày bạn ghé qua làng Yên Mỹ, tôi sẽ không kể về những nơi mình đã đi qua. Tôi chỉ đưa bạn ra triền đê, nơi con sông vẫn lặng lẽ chảy như ngày cũ.

Biết đâu, giữa một cơn gió thoảng, bạn sẽ thấy trong mình có điều gì đó đang cựa quậy — một giấc mơ tưởng như đã ngủ quên.

 

Và khi ấy, có thể bạn sẽ hiểu:

Không phải ai cũng cần đi thật xa để chạm tới những chân trời lớn.

Có những người, chỉ cần đứng yên trên một bãi bồi cũ...

Mà vẫn nghe được tiếng sóng gọi đời mình.


(Quang Đặng - YM, 28.3.2026)

Thứ Sáu, 27 tháng 3, 2026

NƠI NỤ CƯỜI Ở LẠI

 




NƠI NỤ CƯỜI Ở LẠI

Biển Nha Trang hôm đó
không ồn ào,
chỉ có gió
và ánh sáng trôi chậm
như một thước phim cũ.

Anh bế chị giữa khung hình ấy,
váy hoa lay rất nhẹ,
như thể thời gian
cũng không nỡ chạm mạnh.

Nụ cười của chị
không chỉ là niềm vui,
mà là thứ ánh sáng
đi qua năm tháng
vẫn còn nguyên độ ấm.

Có những người,
đi qua giông gió
lại rực rỡ theo cách lặng thầm nhất—
như biển,
không cần nói,
vẫn thấu tận tâm can.

Chị là như thế.

Một người đàn bà
đã học cách giữ nắng trong mắt,
dù đời có lúc nhiều mây.

Sinh nhật
chỉ là một điểm chạm rất khẽ
trên cuộn phim dài của cuộc đời.

Nhưng khoảnh khắc này
đủ đẹp
để người ta muốn dừng lại lâu hơn.

Chúc chị
vẫn bước qua những ngày sắp tới
như bước trên bờ cát ướt—
êm
và vững.

Vẫn cười,
như hôm ở biển—
một nụ cười
khiến cả thế giới phía sau
trở nên dịu lại.

(Quang Đặng — nơi nụ cười ở lại, 28.03.2026)



Tháng Ba Đứng Lại

 



Tháng Ba Đứng Lại


Tháng Ba nghiêng nắng.

Lá rơi.

Hà Nội thay áo rất khẽ.


Ta chạm tay em

một lần —

mà cả đời chơi vơi.


Nụ hôn đầu

rơi không thành tiếng,

chỉ ký ức còn đọng.


Ta đi qua nhau

như gió qua mùa,

chỉ lá còn nhớ.


Tháng Ba đứng lại,

còn em thì không...


(Quang Đặng - FKA, 27.3.2026)


MIẾNG ĐẤT, MIẾNG NGHĨA

 



MIẾNG ĐẤT, MIẾNG NGHĨA


Làng Yên Mỹ nhỏ thôi, gió đồng quanh năm thổi qua bờ tre, ai cũng biết chuyện nhà ông Tình, ông Nghĩa. Hai anh em một thời như bóng với hình, chia nhau từng củ khoai nướng, từng buổi tát nước đêm trăng. Cái nghĩa anh em ấy, dân làng cứ ngỡ bền như đất, chắc như gốc đa đầu đình.

 

Vậy mà, chỉ vì một khoảnh vườn chưa đầy trăm mét vuông bên bờ tre, mọi thứ đổ gãy.

 

Cha mất không kịp để lại di chúc bằng giấy trắng mực đen. Lời qua tiếng lại từ nhẹ thành nặng, từ nặng thành xa. Một hàng rào dây thép gai dựng lên giữa vườn, chắn ngang cả lối đi lẫn tình thâm. Mười năm trời, giỗ cha mỗi người một mâm, anh em gặp nhau đầu ngõ cũng ngoảnh mặt, lạnh lẽo như chưa từng chung một bọc màng. Người làng nhìn mà xót: "Đất có mang theo được đâu, sao nỡ để nghĩa tình rách nát..."

 

Thời gian như cái chớp mắt. Một buổi chiều lặng gió, ông Tình đổ bệnh, tai biến nằm một chỗ. Người đầu tiên hô hoán, tất tả chạy đi gọi xe cấp cứu hôm ấy... lại là ông Nghĩa.

 

Từ đó, người ta thấy bóng ông Nghĩa mỗi ngày đều sang nhà anh. Khi thì bế anh ra hiên ngồi hóng gió, khi thì lặng lẽ chà lưng, đút từng thìa cháo nóng. Không nhắc chuyện cũ, không chạm vào nỗi đau đã lên da non, chỉ có tiếng quạt giấy phành phạch và mùi thuốc sắc nồng đượm.

 

Có người hỏi nhỏ:

– Ông bỏ qua được thật sao?

 

Ông Nghĩa nhìn vạt đất bên bờ tre nay cỏ dại mọc đầy, cười hiền mà mắt đỏ hoe:

– Đất thì vẫn nằm đó, nắng mưa không mòn. Chỉ có người là héo đi thôi. Không buông thì định mang cái giận xuống dưới kia cùng cha già hay sao?

 

Ông Tình nằm trên chõng, tay run run nắm lấy vạt áo em mình. Ngoài kia, nắng chiều đổ vàng trên bờ tre. Hóa ra, đất là thứ người sống tranh giành, còn tình nghĩa mới là thứ giữ người ta lại với nhau. Mất một mảnh đất, đời người vẫn sống; nhưng đánh rơi nghĩa tình, có khi cả đời cũng không tìm lại nổi.


(Quang Đặng - Ngõ nhỏ HN, 27.3.2026)

 


Thứ Năm, 26 tháng 3, 2026

Bóng Chiều Vấn Vương

 


Góc quán tĩnh lặng, chiều nghiêng,
Ấm trà khói tỏa, ưu phiền chưa tan.
Người ngồi lạc giữa thời gian,
Tay vương hư ảo, hồn lang thang rồi...

Tường vàng kể chuyện xa xôi,
Dáng kiều lặng bước, một đời gió bay.
Áo dài trắng chạm heo may,
Chở bao nỗi nhớ phủ đầy mênh mang.

Ai đi qua những muộn màng,
Để người ở lại, mơ màng nhớ thương.
Thực và mộng rẽ hai đường,
Chỉ còn một bóng vấn vương cuối chiều…


(Quang Đặng - Tức ảnh sinh...thơ, 27.3.2026)


Thứ Tư, 25 tháng 3, 2026

BỨC TRANH NỤ CƯỜI

  



    Đêm nay, soi mình vào dòng thời gian miên man, tôi nhận ra cuộc đời không chỉ là bản trường ca, mà là bức họa diệu kỳ nơi mỗi chúng ta đều là người cầm cọ.

Có nét vẽ khởi từ phong ba, có mảng màu pha bằng bại thành, đắng cay và ngọt bùi. Nhưng khi đã đi qua đủ thác ghềnh, ta học được cách gửi vào đó những chao nghiêng rất khẽ của tâm hồn.

Sau cùng, mọi phù hoa đều tan thành mây khói, chỉ còn nụ cười của người đi xuyên giông bão: buông cho nhẹ gánh, lặng để hồi sinh.

Gửi đến bạn những vần thơ lục bát thay cho nét vẽ ấm áp vào ngày mới.


BỨC TRANH NỤ CƯỜI

Trăng nghiêng soi bến lặng trôi,
Ngỡ như hơi thở đất trời giao thoa.
Gió lùa phím lá ngân nga,
Dế mèn tấu bản huyền ca dịu dàng.

Lá chao nghiêng nét khẽ khàng,
Gót trần ai bước vững vàng niềm tin.
Sấm xa thức giấc lặng thinh,
Tựa hồi trống giục chuyển mình sang xuân.

Sao thưa rụng xuống hiên sân,
Đồng hồ gõ nhịp xoay vần thời gian.
Soi mình mặt nước miên man,
Sông dù bồi lở vẫn tràn phù sa.

Đời như một bản trường ca,
Trầm rơi nốt đắng, bổng hòa cung thanh.
Phong trần nếm đủ bại thành,
Pha màu sương gió...vẽ tranh nụ cười.

Thong dong lặng bước giữa đời,
Bồi thêm ân nghĩa, rạng ngời đức nhân.
Chắt chiu mầm thiện chuyên cần,
Vừa lòng đủ ấm, tâm dần nhẹ tênh.

Thuyền đời dẫu có chênh vênh,
Chút tình gửi lại thác ghềnh phong ba.
Ngày mai tia nắng nở hoa,
Tâm an tựa khúc hoan ca hài hòa.


(Quang Đặng - YM, 25.3.2026)

 


TÂM AN GIỮA VÔ THƯỜNG

 


Giữa vòng quay bất tận của bốn mùa và những đổi dời của kiếp người, có những lúc ta chợt nhận ra: mọi thịnh suy, được mất rồi cũng như mây bay qua trời. “Tâm An Giữa Vô Thường” là một phút dừng chân tự tại, nơi gửi gắm chiêm nghiệm về nhân sinh – rằng giữa bao biến động, điều quý giá nhất không phải là nắm giữ cuộc đời, mà là giữ được sự vững chãi trong chính lòng mình

 

TÂM AN GIỮA VÔ THƯỜNG

Xuân sang dệt thắm mai vàng,
Hạ về đổ lửa rộn ràng trời quê.
Gió thu nhè nhẹ ven đê,
Đông gieo sắc trắng phủ che hiên nhà.

Bốn mùa lặng lẽ đi qua,
Đất trời thay áo như là thói quen.
Thịnh suy một cõi nhân sinh,
Vinh hoa chợt đến, nhục vinh lại rời.

Công danh tựa áng mây trôi,
Hợp tan một thoáng giữa đời phù sinh.
Ngẫm xem vạn sự vô hình,
Được – thua, hơn – thiệt lặng nhìn mà thôi.

Người đi giữa cõi xa xôi,
Nặng mang chi những đầy vơi trong lòng.
Tâm an một cõi thong dong,
Phong ba dẫu dậy, sóng lòng chẳng xao.

Lời tác giả:

Chút tâm tình gửi vào nhịp bốn mùa, hy vọng mỗi người sau những ngược xuôi danh lợi đều tìm thấy một cõi thong dong để trở về. Giữa thế gian đầy rẫy những chênh vênh, chỉ mong lòng ta vẫn giữ được sự an nhiên, như mặt hồ phẳng lặng sau cơn mưa, hay như gốc thông già tĩnh tại giữa ngàn gió.


Quang Đặng – YM, 25.3.2026

 


BẾN NƯỚC TÌNH NGƯỜI

 



Có những khoảnh khắc rất khẽ trong đời, khi đêm xuống đủ sâu để lòng người chậm lại, lắng nghe những chuyển động tưởng như vô hình: một tiếng dế lạc giữa thinh không, bước chân thời gian khua trên vách vắng, và cả những bồi lở âm thầm của chính tâm hồn sau bao năm tháng phong trần.

Từ miền tĩnh lặng ấy, "Bến Nước Tình Người" hiện lên không phải như một tiếng vang, mà như một dòng chảy hiền hòa. Bài thơ là nơi con thuyền tâm hồn tự cho phép mình neo đậu, để soi bóng vào dòng nước, học cách đối thoại với những vết xước của số phận và tiếp tục hành trình gieo mầm thiện lương giữa nhân gian.



BẾN NƯỚC TÌNH NGƯỜI

Canh khuya lắng giọt đêm trôi,
Ngỡ như hơi thở đất trời hòa ca.
Gió lùa hiên vắng ngân nga,
Dế mèn tấu bản tình ca giữa đời.

Lá rơi nhẹ bẫng... thảnh thơi,
Tiếng chân ai bước rạng ngời niềm tin.
Sấm xa vọng tiếng lặng thinh,
Nghe như đất mẹ chuyển mình sang xuân.

Sao thưa lấp lánh ngoài sân,
Đồng hồ gõ nhịp trong ngần thời gian.
Soi mình mặt nước miên man,
Sông dù bồi lở vẫn tràn phù sa.

Đời người một bản tình ca,
Khổ đau là nốt, mặn mà là cung.
Ngọt bùi cay đắng đã từng,
Chắt chiu giữ lấy muôn trùng niềm vui.

Cần chi tất tả ngược xuôi,
Giữ tâm thanh thản, nụ cười nở hoa.
Nghĩa nhân bồi đắp thật thà,
Biết vừa là đủ, là ta nhẹ nhàng.

Gói nhau trong nỗi nồng nàn,
Giữ tình ở lại vẹn toàn tâm giao.
Mai này nắng ấm dâng trào,
Tâm an đời hóa cung đàn thanh cao.


(Quang Đặng - YM, 25.3.2026)

 


Thứ Ba, 24 tháng 3, 2026

MẸ CHỒNG, MẸ ĐẺ

 



MẸ CHỒNG, MẸ ĐẺ


Làng Yên Mỹ giờ đây không còn thiếu thốn như xưa. Đường bê tông sạch sẽ, nhà tầng mọc lên san sát, wifi mạnh đến mức người ta đùa là “chạy nhanh như gió đồng mùa thu”.

Nhưng điều khiến người làng tự hào hơn cả, lại là câu chuyện trong một ngôi nhà nhỏ ở cuối xóm – nơi có một bà cụ nằm liệt suốt bảy năm trời.

Bà cụ tên Hợi – mẹ chồng của chị Ngọc.

Chị Ngọc nổi tiếng trong làng không phải vì giàu có, mà vì cái dáng người gầy gò mà đảm đang. Sáng nào chị cũng dậy từ tinh mơ, lo cơm nước cho cả nhà. Tối đến, chị lại ngồi bên giường, xoa bóp chân tay, đút từng thìa cháo cho mẹ chồng – nhẹ nhàng như chăm chính mẹ ruột của mình.

Bà Hợi bị tai biến năm 72 tuổi, từ đó không còn đi lại được, lời nói cũng trở nên khó khăn.

Người làng ai cũng bảo:

– Con dâu mà chăm mẹ thế này, còn hơn con ruột.

– Nằm liệt mấy năm mà bà vẫn sạch sẽ, thơm tho, thật có phúc.

Ngọc chỉ cười hiền:

– Con ruột là duyên Trời cho.

Còn con dâu… là người mẹ chọn.

Mẹ tin mình, thì mình phải sống sao cho xứng.

Bà Hợi không nói được. Nhưng mỗi lần Ngọc lau mặt hay đút từng thìa nước, khóe mắt bà lại ươn ướt.

Ánh nhìn ấy – lặng lẽ thôi – mà đủ làm ấm cả gian bếp những ngày đông.

Có lần con gái ruột của bà về thăm. Đứng nhìn chị dâu cẩn thận bón cháo cho mẹ, cô nghẹn ngào:

– Chị chăm mẹ còn hơn cả em… Mẹ thật có phúc.

Câu chuyện ấy được người làng Yên Mỹ nhắc lại như một “tích làng”.

Bởi giữa thời buổi người ta còn hay so đo mẹ chồng – nàng dâu, thì trong căn nhà nhỏ ấy, người ta thấy rõ một điều giản dị:

máu mủ chưa chắc bằng tấm lòng,

ruột rà chưa hẳn sâu bằng nghĩa.




Suy ngẫm

Sinh ra là duyên.

Chăm sóc nhau là tình.

Mẹ chồng hay mẹ đẻ…

cũng đều là mẹ, nếu ta thật lòng thương.


TỐI LỬA TẮT ĐÈN CÓ NHAU

 



TỐI LỬA TẮT ĐÈN CÓ NHAU


Làng Yên Mỹ giờ đây không còn lụp xụp như trước. Nhà mái tôn khang trang, cổng có chuông điện, tối đến đèn năng lượng mặt trời sáng lên khắp xóm, dịu như vầng trăng rằm treo thấp.

Nhưng giữa những tiện nghi đủ đầy ấy, người làng vẫn giữ cho mình một thứ ánh sáng cũ – thứ không đến từ dây điện, mà từ lòng người: Tối lửa tắt đèn có nhau.

Nhà cụ Nhoi ở cuối xóm. Căn nhà nhỏ, tường gạch mộc, mái tôn cũ, nền xi măng lúc nào cũng lạnh. Cụ sống một mình đã lâu – chồng mất, con cái đi làm ăn xa.

Người làng thương cụ. Ai đi qua cũng ghé lại đôi chút: khi thì củ khoai luộc, khi bát canh nóng, khi chỉ là ấm chè xanh còn bốc khói.

Một tối trời nổi giông. Mây kéo sầm xuống, gió quất ràn rạt. Sấm chớp đuổi nhau ngoài trời, rồi “đoàng” – một tiếng nổ xé ngang không gian. Bóng đèn trong nhà cụ phụt tắt.

Bóng tối ập xuống bất ngờ.

Cụ Nhoi lục tìm chiếc đèn pin cũ. Tay run, bước dò dẫm. Chưa kịp sợ, cũng chẳng kịp nghĩ gì nhiều.

Đúng lúc ấy, ngoài hiên vang lên tiếng chân vội, rồi một giọng gọi nhỏ mà gấp:

– Cụ ơi, cụ có sao không ạ?

Là vợ chồng anh Thịnh ở đầu ngõ. Anh cầm đèn pin, chị khoác chiếc túi vải, bên trong là nồi cháo gà còn nghi ngút khói.

Chưa kịp khách sáo, họ đã bước vào, châm lại cây đèn dầu cũ treo trên vách.

– Nghe tiếng nổ lớn quá, bọn con lo… Cháo còn nóng, cụ ăn cho ấm bụng.

Cụ Nhoi ngồi xuống chiếc chõng tre. Hai tay đỡ nồi cháo, mắt cụ ươn ướt.

Cụ nhìn ánh đèn dầu leo lét, nhìn đôi vợ chồng trẻ áo còn sũng nước mưa, mà thấy lòng mình ấm lên, như có lửa.

Cụ khẽ nói, giọng chậm mà chắc:

– Ở đời… khi tắt đèn mà vẫn thấy bóng người, ấy là còn tình còn nghĩa.
Mất điện thì dễ… chứ mất tình là mất hết.

Từ hôm đó, trước cổng nhà cụ Nhoi có thêm một tấm bảng gỗ nhỏ. Chữ viết nắn nót, ngay ngắn:

“Ánh sáng từ lòng người mới giữ được làng sáng khi đèn tắt.”


Suy ngẫm

Ánh sáng giúp ta nhìn rõ mọi thứ.

Nhưng chỉ có tình người mới giúp ta không lạc nhau trong những lúc tối tăm nhất.

 

GỐC ĐÊ VÀ CỬA SÓNG

  Có những ký ức không bao giờ phai màu. Chúng nằm yên như một thước phim cũ, không ồn ào, không vội vã — chỉ đợi một ánh nhìn chạm khẽ là b...