Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2026

BÓNG CHA

 


BÓNG CHA

 

Chiều nghiêng bóng đổ hiên nhà,

Dáng cha che nửa nắng tà cuối sân.

Đời con lớn theo dấu chân,

Vô tâm đâu biết tóc dần bạc phai.

 

Cha không lời ngắn ý dài,

Thương con gánh nặng tháng ngày đôi vai.

Bàn tay chai sạm sương mai,

Chắt chiu từng giọt nắng nuôi chí bền.

 

Lưng còng gánh mọi thác ghềnh,

Cho con đứng thẳng giữa nền trời xanh.

Mỗi lần con vững bước nhanh,

Là thêm một nét hao hanh dáng gầy.

 

Bữa cơm khói bếp vơi đầy,

Miếng ngon nhường hết những ngày gian lao.

Đêm khuya ngọn lụn dầu hao,

Lập lòe khói thuốc, quặn vào đắng cay.

 

Thời gian như gió thoảng bay,

Nhuộm mái tóc trắng ngang mây cuối trời.

Con đi muôn nẻo trùng khơi,

Mới hay bóng cả suốt đời là Cha.

 

Mai này dẫu bước đường xa,

Qua bao dâu bể, phong ba cuộc đời.

Chỉ mong mỗi độ chiều rơi,

Còn người ngóng đợi ở nơi quê nhà.

 

Ngỡ sau cánh cửa nhạt nhòa,

Mơ màng tiếng gọi: “Vào nhà con ơi!”

Giật mình... nắng tắt ngang trời,

Ghế xưa còn đó... cha ngồi nơi đâu?

 

(Quang Đặng - Chiều hạ nhớ Cha, 27.6.2026)


Thứ Sáu, 26 tháng 6, 2026

MÙA HÈ CHƯA KHÉP




MÙA HÈ CHƯA KHÉP

Đọc “Nhớ mùa hè xưa...” của Thầy Nguyễn Quảng


Có những lối trở về không được đo bằng khoảng cách, mà bằng độ sâu của ký ức. Chỉ cần một cơn mưa đầu hạ, một chùm phượng đỏ hay tiếng ve bất chợt ngân lên ngoài hiên, cả một miền thanh xuân tưởng đã ngủ yên bỗng dịu dàng thức dậy.

Trong những ngày cuối tháng Sáu, khi sân trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội (HUBT) lặng dần sau mùa thi, bài thơ “Nhớ mùa hè xưa...” của Thầy Nguyễn Quảng đến như một làn gió mát. Không cố gắng khuấy động cảm xúc, bài thơ nhẹ nhàng dẫn người đọc đi qua từng nếp gấp của ký ức, để nhận ra rằng có những mùa hè tuy đã lùi xa nhưng chưa bao giờ thực sự khép lại. Chúng vẫn ở đó, trong một góc rất sâu của tâm hồn mỗi người.

Ngay từ những câu thơ mở đầu, Thầy Nguyễn Quảng đã khẽ đặt người đọc vào khoảnh khắc giao thời đầy thi vị:

“Một trận mưa rào ướt hàng cây,

Tiết xuân chuyển dạ sáng tầng mây.”

Mùa xuân không khép lại; nó chỉ lặng lẽ trao gửi mùa hạ cho đất trời như một cuộc sinh thành. Chỉ với hai chữ “chuyển dạ”, dòng chảy của thời gian bỗng có hình hài, còn thiên nhiên cũng mang theo nhịp thở phập phồng của con người. Sau cơn mưa ấy, vòm trời như rộng mở, chuẩn bị đón đợi sắc phượng thắp đỏ các khoảng sân, đánh thức những tháng năm tưởng đã lùi sâu vào ký ức.

“Phượng hồng thắp lửa tươi màu nắng,

Nhung nhớ trường xưa những tháng ngày.”

Sắc phượng không chỉ thắp đỏ sân trường, mà còn rực cháy trong miền hoài niệm của những người đã đi qua tuổi ngọc. Mùa hè xưa tưởng đã lùi sâu vào dĩ vãng, nhưng chỉ cần một cái chạm nhẹ của hiện tại, cả một thời áo trắng lại rưng rưng trở về. Điều đọng lại sau cùng không phải là sự nuối tiếc, mà là những rung động vẹn nguyên làm nên linh hồn của tuổi trẻ. Có những năm tháng chỉ khi đã lùi xa, con người mới chợt nhận ra mình từng có một thời hoa niên đẹp đến nhường nào.

Khởi đi từ niềm hoài nhớ ấy, những vần thơ tiếp theo mở ra khoảng trời trong trẻo, tinh khôi nhất của tuổi học trò.

“Không thể nào quên tuổi dại khờ,

Một thời áo trắng đẹp như mơ.

Môi em dìu dịu hương mười tám,

Ngây ngất hồn anh, khó hững hờ.”

Nơi đây không có sự phô bày của những rung động cuồng nhiệt, càng không có những lời hẹn ước cao sang. Mọi xúc cảm đều được giữ ở độ chừng mực, vừa vặn. Chỉ một chữ “dìu dịu” đã khơi gợi được nét duyên rất riêng của tuổi mười tám: hồn nhiên, e ấp và trong ngần. Chính nét cẩn trọng, kín đáo ấy lại tạo nên sức ngân vang cho từng lời thơ; những gì chưa nói hết, chưa chạm tới lại trở thành dư âm ở lại lâu bền nhất. Có những xao xuyến đầu đời không cần quá vồ vập, bởi thứ khiến lòng người nhớ mãi thường là vẻ đẹp tinh khôi của lần đầu biết thương, biết nhớ.

Ai từng đi qua tuổi học trò hẳn sẽ nhận ra đâu đó bóng dáng của chính mình trong từng lời thơ ấy.

Khi chạm vào thước phim viết về phút chia ly, tác giả không sa đà vào bi lụy, không cố tình đẩy cảm xúc thành tiếng nấc nghẹn ngào, mà để nỗi lưu luyến tự len lỏi qua từng hình ảnh rất đỗi bình dị.

“Tan lớp chung đường bước cạnh nhau,

Tình như đã đượm, khó phai màu.

Sân trường không nói câu từ biệt,

Lệ ướt mi dài, mắt đỏ au.”

Trong tứ thơ ấy, “Sân trường không nói câu từ biệt” chính là khoảng lặng để lại nhiều dư âm hơn cả. Không gian vốn vô tri, nhưng chính sự lặng im lúc này lại là lời tiễn biệt sâu sắc nhất. Khi con người chẳng thể thốt nên lời trong phút rời xa, thì khoảng sân quen, hàng cây cũ và từng góc lớp dường như đã cất tiếng thay họ. Bằng một phép nhân hóa nhẹ nhàng, tác giả đã biến cuộc chia ly của đôi bạn thành nỗi bâng khuâng chung của cả một miền hoài niệm. 

Hình ảnh “mắt đỏ au” ở câu thơ cuối không đơn thuần là tả thực những giọt lệ vương trên mi, mà còn chất chứa biết bao điều mãi giấu kín: một ánh nhìn chưa kịp giữ, một lời yêu chưa kịp ngỏ, một mối duyên vừa chớm nở đã phải lặng lẽ vùi sâu. Sau cái ngoảnh đầu của mùa hè năm ấy, thanh xuân chính thức hóa thành ký ức. Để rồi nhiều năm sau nhìn lại, điều người ta hoài nhớ không chỉ là buổi phân ly, mà là phiên bản trong trẻo, vẹn nguyên nhất của chính mình đã gửi lại dưới mái trường xưa. 

Khổ thơ cuối mở ra bằng một nỗi niềm đã được thời gian gạn lọc.

“Chỉ có yêu thôi, mộng chẳng thành,

Tim vàng khó gửi mái lều tranh.

Em đi ngoảnh lại làm chi nữa,

Để trái tim anh trĩu nặng cành.”

Nỗi buồn nơi đây không còn là tiếng thở dài oán trách của một mối tình dang dở, mà đã bình tâm trở lại bằng cái nhìn bao dung của người từng trải. Có lẽ vì thế, những gì đẹp nhất của thuở thanh xuân không hề phai nhạt, mà chỉ lặng lẽ sáng trong hơn theo tháng năm.

Nếu “tim vàng” là biểu tượng của một tấm lòng son trẻ, luôn dành phần thuần khiết nhất cho tình yêu, thì “mái lều tranh” lại gợi về những giới hạn khắc nghiệt của thực tại. Thế nhưng, điều đọng lại sau cùng không phải là khoảng cách hay sự tiếc nuối, mà là vẻ đẹp của một thời đã yêu bằng tất cả sự trong ngần. Bởi có những nhân duyên không thể đi cùng ta đến cuối cuộc đời, nhưng vẫn đủ sức sưởi ấm cả một quãng đời phía trước.

Bài thơ khép lại bằng một ẩn dụ giàu sức gợi: “Để trái tim anh trĩu nặng cành.” Trái tim ấy tựa quả chín còn neo lại trên cành của mùa hạ cũ. Năm tháng có thể trôi xa, nhưng những yêu thương thuở ban đầu vẫn ở đó, mang theo sức nặng của một lời thương còn bỏ ngỏ — bền bỉ và lặng lẽ hiện diện như chứng nhân cho một thời đã sống. 

Có lẽ, giá trị lớn nhất của “Nhớ mùa hè xưa...” không nằm ở câu chuyện tình dang dở, mà ở cách Thầy ngoảnh lại quá khứ bằng cái nhìn thấu suốt. Không oán trách số phận, cũng chẳng cố níu giữ điều đã mất; người thầy thơ ấy chọn cách bình thản gói ghém những gì từng đẹp thành một góc dịu dàng trong tâm hồn.

Giữa nhịp sống hôm nay, khi mọi đổi thay đều diễn ra quá vội, bài thơ khẽ nhắc rằng thanh xuân chưa bao giờ thực sự rời xa. Nó chỉ lặng lẽ ẩn mình trong ký ức, để rồi mỗi độ hè về, qua tiếng ve, sắc phượng hay một cơn mưa đầu mùa, lại bất chợt thức giấc. Thơ không thể làm thời gian quay ngược, nhưng đủ sức khiến những điều đẹp nhất của một thời tuổi trẻ bừng sáng thêm lần nữa trong lòng người đọc.

Nhớ mùa hè xưa...” vì thế không dừng lại ở câu chuyện của một mối tình học trò, mà là lời hát tôn vinh tuổi trẻ, mái trường và cả những người từng đi ngang cuộc đời nhau bằng tất cả sự trong trẻo. Đọc đến dòng thơ cuối, điều đọng lại không phải là nỗi buồn tiếc nuối, mà là một niềm dịu ấm sinh sôi. Và dưới mái trường HUBT hôm nay, giữa sắc phượng vẫn đỏ và tiếng ve vẫn ngân, ta chợt hiểu rằng có những mùa hè không bao giờ kết thúc. Chúng vẫn sống — trong từng trang thơ, trong tâm tưởng của những người đã trưởng thành, để mỗi lần ngoảnh lại, lòng ta vẫn dịu đi bởi một khoảng trời tuổi trẻ vẹn nguyên hơi ấm.

(Quang Đặng - YM, 26.06.2026)


Thứ Năm, 25 tháng 6, 2026

KỲ BÀN TRI KỶ



NƠI TRI ÂM GẶP NHAU


Có những cuộc gặp gỡ chỉ kéo dài trong một buổi chiều. Nhưng cũng có những cuộc gặp gỡ khiến người ta tin rằng thời gian chưa từng trôi qua. Bởi điều còn ở lại không phải là một ván cờ đã khép, mà là sự đồng điệu giữa những tâm hồn biết trân trọng nhau.


Trong không khí hân hoan kỷ niệm ba mươi năm thành lập Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội (HUBT, 1996–2026), bức ảnh đã lưu giữ một khoảnh khắc thật đẹp. Dưới ánh hoàng hôn dịu vàng bên biểu tượng Kinh Công, bàn cờ được mở ra như một nhịp cầu nối những người đồng nghiệp, nơi trí tuệ gặp sự điềm đạm, nơi lễ nghĩa gặp sự chân thành, và cũng là nơi một chén trà đủ thay cho muôn lời.


Bên trái bàn cờ là cô Nguyễn Thị Huyền – Khoa Tiếng Anh B, với nụ cười hiền hòa và phong thái gần gũi. Đối diện là anh Nguyễn Văn Long (nhà thơ, nhà báo Giáng Long) – Giám đốc Trung tâm Truyền thông, điềm tĩnh trong từng ánh mắt, ung dung trong từng cử chỉ. Hai chén trà khẽ chạm nhau giữa bàn cờ đang mở. Không còn ranh giới của người thắng hay kẻ thua, chỉ còn sự trân trọng dành cho đối phương và niềm vui được gặp một người xứng đáng để đối ẩm, đối kỳ và đối thoại.


Ngắm nhìn khoảnh khắc ấy, tôi chợt hiểu rằng điều quý giá nhất của một ván cờ không phải là nước cờ cuối cùng, mà là người ngồi đối diện. Quân cờ có thể khép lại một ván đấu, nhưng một tấm lòng chân thành lại có thể mở ra một tình tri kỷ.


Ba mươi năm là một hành trình đủ dài để chứng kiến bao lớp người đến rồi đi. Thời gian có thể làm phai màu nhiều kỷ niệm, nhưng không thể làm nhạt đi những cuộc gặp được xây bằng sự chân thành, trí tuệ và nhân cách. Có lẽ vì vậy mà bức ảnh này không chỉ lưu giữ một cuộc thi cờ, mà còn lưu giữ một vẻ đẹp rất riêng của văn hóa Kinh Công: trọng tài, trọng nghĩa và trọng người.


Chính từ cảm xúc ấy, những vần thơ thất ngôn bát cú mang tên “Kỳ Bàn Tri Kỷ” đã được viết nên như một lời tri ân dành cho cuộc tương ngộ tuyệt đẹp giữa những người bạn đồng hành trên hành trình ba mươi năm Kinh Công.



KỲ BÀN TRI KỶ

 

Huyền mười Khoa B rạng ánh hồng,

Kỳ bàn tương ngộ hội Giáng Long.

Một chén trà thơm gieo nghĩa lớn,

Quân tử nghiêng tay, dạ ấm nồng.

 

Mặc thế cờ đời phân thắng bại,

Phong ba chẳng đổi một lòng trong.

Trải bao sương gió tình sâu nặng,

Sáng mãi tri âm chốn Kinh Công.


(Quang Đặng - HUBT, 26.06.2026)







LONG BIÊN, NẮNG & AN

 



Có những ngày chạm ngõ năm mươi, ta chợt thèm cái cảm giác được đứng ngắm hoàng hôn buông dài trên những nhịp sắt rêu phong của cầu Long Biên, nhìn dòng sông Hồng lững lờ chở phù sa và cả những ký ức một thời đi qua giông bão. Ở cái tuổi này, khi tóc đã điểm vài sợi bạc, bục giảng đã trải qua bao độ thu vàng và viên phấn trên tay đã vẽ nên muôn vàn bảng đen tri thức, ta mới thấu hiểu thế nào là giá trị của sự bình an.

 

Gửi tặng bạn – người bạn đồng sinh cùng tôi bước qua cái ngưỡng nửa đời người – những vần thơ lục bát mộc mạc này. Giữa dòng nhân thế đua chen ngược xuôi, mong bạn tôi hãy như đóa sen kia, ngời lên sự trong ngần, tự tại. Thời gian có thể là cánh phù vân lướt qua miền ánh mắt, nhưng nụ cười an nhiên ấy thì xin hãy giữ mãi, để xuân luôn neo lại giữa cuộc đời thong dong...


LONG BIÊN, NẮNG & AN

Long Biên gửi chút rêu phong,
Trăm năm soi bóng dòng sông lững lờ.
Chiều nghiêng gió chạm vần thơ,
Hoàng hôn mắc lại bên bờ tóc ai.

Tơ vàng trải dọc đường ray,
Rót tình lên những chuỗi ngày đã qua.
Gió đưa hương cỏ ngân xa,
Nắng nghiêng bên tóc, sắc hạ vừa sang.

Bục giảng bao độ thu vàng,
Phấn bay trắng cả muôn vàn bảng đen.
Giữa dòng nhân thế đua chen,
Riêng An ngời một đóa sen trong ngần.

Thời gian tựa cánh phù vân,
Qua miền ánh mắt còn ngân nắng chiều.
Cầu xưa nối nhịp phiêu diêu,
Ươm cho nét ngọc mỹ miều chẳng phai.

Long Biên còn đó tháng ngày,
Sông Hồng còn chở mây bay cuối trời.
Và An vẫn giữ nụ cười,
Cho xuân neo lại giữa đời thong dong.


(Quang Đặng - YM, 26.06.2026)


 


Một Tâm Lành Giữa Giảng Đường

 



Một Tâm Lành Giữa Giảng Đường


Kính gửi Diễn Huynh,


Đêm buông. Khi tiếng chuông tan lớp cuối cùng đã khép lại, những lao xao của ngày dài cũng dần lùi xa sau cánh cửa. Em ngồi lại một mình, đọc mấy dòng thơ anh viết. Ngoài hiên, gió khẽ đi qua. Trong phòng, chỉ còn vệt đèn vàng ấm áp và một khoảng tĩnh lặng rất riêng. Chính trong khoảnh khắc ấy, thơ anh bước đến, như một tiếng chuông ngân xa giữa đêm sâu — không ồn ào, không vội vã, nhưng đủ khiến người đọc dừng lại để tự soi rọi lòng mình.

Cùng đứng trên bục giảng, em hiểu phía sau hai chữ “giảng đường” là biết bao nỗi niềm lặng lẽ. Nơi ấy đâu chỉ có bụi phấn, trang sách và những ánh mắt học trò. Phía sau phấn trắng bảng đen còn có những áp lực không tên, những so sánh hơn thua, và cả những phút giây người thầy phải tự nhắc mình giữ lấy phần trong trẻo nhất giữa dòng chảy xô bồ của thực tại.

Bởi thế, khi chạm vào hai câu thơ của anh, em chợt thấy lòng mình dịu lại:

“Giảng đường phấn bụi, buông danh lợi,

Bảng trắng, lòng trong, chẳng cạnh tranh.”

Đó không đơn thuần là câu chữ, mà là một tâm thế đã đi qua nhiều trải nghiệm để đổi lấy sự an nhiên.

Người ta thường nghĩ phải lánh đời, tìm về non cao suối thẳm mới có được bình yên. Nhưng điều đáng quý ở anh là vẫn chọn ở lại giữa cuộc đời, vẫn đi qua những va đập thường ngày mà giữ được sự trong trẻo của tâm hồn. Chữ “buông” trong thơ anh nghe nhẹ nhõm vô cùng. Nó không mang sắc màu của sự từ bỏ hay bất lực, mà là sự buông xuống của một người đã nhìn đủ, hiểu đủ, biết điều gì thật sự cần giữ lại và điều gì nên để nhẹ trôi đi.

Có lẽ, chỉ khi lòng người đủ rộng, những điều từng làm mình nặng lòng mới trở nên nhẹ tênh, như bụi phấn bay qua một khoảng nắng chiều rồi tan vào thinh không.

Em lặng người hồi lâu trước câu thơ:

“Cười với nhân gian, buông mọi chấp”

Nét cười ấy, em nghĩ, không phải là cái cười ngạo nghễ hay quay lưng trước thế sự. Đó là nụ cười của người đã đi qua đủ đầy những hân hoan lẫn nếm trải, để rồi nhìn nhân gian bằng ánh mắt bao dung hơn, rộng lượng hơn. Khi những chấp niệm dần lắng xuống, đúng - sai, hơn - thiệt ngoài kia cũng bớt nặng lòng. Điều còn lại sau cùng, hóa ra chỉ là câu hỏi rất giản dị: lòng mình có còn giữ được một khoảng bình yên hay không?

Và rồi câu thơ cuối khép lại, như một dấu lặng đẹp cho hành trình trở về với chính mình:

“Một trà, một nguyệt, một tâm lành.”

Cuộc đời này, có lẽ những điều càng giản dị lại càng khó chạm tới. Bước qua những năm tháng nhiều va vấp, hạnh phúc không còn nằm ở việc thu nhặt thêm điều gì, mà ở khả năng sống trọn vẹn với những gì đang có. Một chén trà để lắng lại. Một vầng trăng để bầu bạn. Và một tâm lành để tìm về sau những mỏi mệt.

 

Đọc thơ anh, em không chỉ thấy những thanh vần đẹp. Em còn thấy thấp thoáng bóng dáng một người thầy, một người anh đã dành nhiều năm tháng đi cùng con chữ, đi cùng học trò, và quan trọng hơn cả là đi cùng chính mình. Anh khiến em nhận ra rằng, bình yên chưa bao giờ chỉ nằm ở hoàn cảnh bên ngoài, mà nằm ở cách ta đối diện với đời bằng một tấm lòng đủ sáng.

Để sẻ chia chút lòng tri âm nơi giảng đường, em xin gửi lại anh mấy dòng thơ mộc mạc:

Bảng đen khép lại cuối chiều xa,

Phấn trắng bay cùng tháng năm qua.

Giữ lòng thanh sạch không vương bụi,

Nâng chén trà thơm tiễn bóng tà.

 

Nửa đời gieo chữ không mong đợi,

Một kiếp làm người chỉ thuận hòa.

Chẳng mượn hào quang nơi phố thị,

Trong tâm còn giữ một nhành hoa.

Cảm ơn anh vì một góc nhìn, một tấm gương an nhiên được gửi gắm qua những câu thơ đẹp.

Mai này, sau mỗi mùa phượng nở, giữa những đổi thay và thăng trầm của thời gian, mong anh vẫn giữ được khoảng lặng trong lành ấy cho riêng mình — nơi có một chén trà thơm, một vầng trăng sáng và một tâm lành vẫn lặng lẽ tỏa hương. Và biết đâu, chính từ khoảng lặng bình yên ấy, nhân gian lại được lắng nghe thêm những tiếng chuông ngân xa...


Trân trọng,

Quang Đặng


Thứ Tư, 24 tháng 6, 2026

Bài hát: MÌNH TAN VÀO NHAU

 

   

    BẢN 1

  


 BẢN 2





Mình Tan Vào Nhau 

[Verse 1]

Đêm Nhật Lệ gió khẽ qua vai
Lặng nghe sóng vỗ dịu lòng ai
Biển hát bằng ngàn con sóng nhỏ
Ru trái tim mỏi mệt đường dài.

Chân trần bước trên cát bao la
Thanh xuân ngỡ như chẳng đâu xa
Chẳng cần nói thêm điều gì nữa
Chỉ nhìn nhau... cũng đủ yên lòng.


[Pre-Chorus]

Ngoài khơi xa đèn thuyền còn thức
Như vì sao lạc giữa biển đêm
Dẫu mai này mỗi người một hướng
Xin nhớ đêm này... mình đã có nhau.


[Chorus]

Đêm Nhật Lệ... mình tan vào nhau
Tan vào gió... tan vào biển sâu
Tan vào ánh mắt chưa kịp nói
Rằng ngày mai... hai ngả về đâu.

Đêm Nhật Lệ... mình tan vào nhau
Để thời gian chẳng thể phai màu
Mai cuộc đời đưa về muôn lối
Biển còn đây... sóng vẫn bạc đầu.


[Verse 2]

Có những người đi một đoạn thôi
Mà thương hoài qua mấy mùa trôi
Có những đêm tưởng rồi chóng qua
Lại theo ta đi suốt cuộc đời.

Ngày mai ấy mỗi người một phương
Mang ước mơ đi khắp nẻo đường
Chỉ mong giữa bộn bề năm tháng
Vẫn nghe tiếng sóng gọi thanh xuân.


[Bridge]

Nếu một ngày vô tình ngang biển cũ
Xin dừng chân nghe gió nói đôi lời
Biết đâu sóng vẫn còn lưu dấu
Một tuổi trẻ... rực rỡ thuở đôi mươi.


[Final Chorus]

Đêm Nhật Lệ... mình tan vào nhau
Tan vào ký ức chẳng phai màu
Tan vào những nụ cười năm ấy
Để mai này... còn biết tìm nhau.

Đêm Nhật Lệ... sóng vẫn như xưa
Trăng vẫn nghiêng trên bờ cát quen
Chỉ chúng mình đi qua đổi thay
Còn thanh xuân... ở lại... nơi này.


[Outro]

Oh... biển vẫn hát bài ca đầu tiên
Oh... gió vẫn gọi thầm những cái tên
Nếu mai này lạc giữa cuộc đời
Xin hãy nhớ về một đêm...

Mình đã... tan vào nhau...


Quang Đặng - Góc phố chiều hạ, 24.6.2026




QUA MẤY ĐẠI DƯƠNG, VỀ NGHE SÓNG BÃI



QUA MẤY ĐẠI DƯƠNG, VỀ NGHE SÓNG BÃI

 

Người ta vẫn bảo dân ngoại ngữ thường tư duy bằng những cấu trúc logic phương Tây, còn tôi – một cô giáo Văn quanh năm bầu bạn với điển tích, điển cố – lại chưa từng nghĩ sẽ gắn bó đời mình với một thầy giáo tiếng Anh. Vậy mà cái duyên cứ thế đến, nhẹ nhàng như gió heo may đơm bông. Ít ai biết rằng, động lực đưa anh – thầy Đặng Đức Quang (Bút danh: Quang Đặng) – đến với những vần thơ lục bát đầu tiên chính là để “chinh phục” trái tim cô nữ sinh sư phạm Văn năm ấy. Từ mối tình đầu trong trẻo đến người bạn đời tri kỷ, tôi đã lặng lẽ ngắm nhìn hành trình “qua mấy đại dương” của anh, để rồi nhận ra, đích đến cuối cùng của người đàn ông ấy vẫn là tư thế ung dung tự tại, quay “về nghe sóng bãi” của tâm hồn.

“Qua mấy đại dương” – Tri thức thế giới và lòng tử tế thầm lặng

“Đại dương” trong cuộc đời anh không chỉ là khoảng cách địa lý của những năm tháng thanh xuân du học tại Bristol cổ kính, những chiều trên xe buýt đỏ ở London, hay hoàng hôn biển Bondi, Sydney. Đó còn là đại dương bao la của tri thức và ngôn ngữ. Qua hơn hai thập kỷ tận tụy trên bục giảng, anh chọn tâm thế người đồng hành thầm lặng, hướng học trò đón gió thời đại bằng tư duy giản dị: “Muốn bay cao phải biết gấp cánh từ vựng, muốn bay xa phải no gió ngữ pháp.”

Nhưng điều khiến tôi trân trọng nhất ở anh chính là cái gốc nhân văn không bao giờ dịch chuyển. Qua những năm tháng phiên dịch hay giảng dạy, anh thấu hiểu ngôn ngữ sinh ra là để con người xích lại gần nhau. Học trò thương anh ở những cử chỉ quan tâm rất nhỏ: những chiếc bánh mì con con đặt ở cuối lớp trong các ca học muộn oi nồng dưới mái tôn hầm hập năm xưa hay giảng đường hiện đại ngày nay. Sự tử tế thầm lặng ấy hiện hữu tự nhiên như bài học về tình người, gửi gắm niềm tin rằng đi qua gian nan, tri thức mới chưng cất thành quả ngọt.

“Về nghe sóng bãi” – Chữ tình thắp lửa giữa khoảng trời HUBT

Sau những dặm dài lữ thứ, khi rũ bỏ bộn bề công việc, anh chọn quay về neo đậu tâm hồn vào thể thơ truyền thống. Tôi nhớ những buổi tối muộn, khi tiếng dương cầm với bản “Für Elise” vừa dứt, anh khẽ kéo ghế ngồi lại gần tôi, tựa vai nhau tâm tình về con đường sáng tác. Anh cười hiền, bảo ngày đầu viết chẳng nghĩ mình làm thơ, chỉ như kẻ đi đường nhặt nhạnh từng chút vụn vặt cuộc sống rồi thả vào trang giấy.

Từ những dòng cảm xúc thô mộc ấy, anh may mắn nhận được sự đồng điệu từ những người thầy, người bạn tại Câu lạc bộ Văn Thơ HUBT. Thơ anh được nuôi dưỡng bằng đạo lý tri ân và sự đối thoại tinh thần sâu sắc. Đọc thơ tiền bối, tâm hồn anh rung động nhịp nhàng: anh lặng người trước nét chữ “côi cút giữa núi thẳm rừng sâu” của thầy Trần Anh Thơ; thấu cảm cái “say giản dị mà sâu thẳm” trong thơ thầy Nguyễn Quảng. Và đặc biệt, khi nhà thơ Đỗ Trọng Thiều viết những dòng vô thường từ giường bệnh, anh liền họa lại bằng tất cả niềm thành kính:

                                “Chở bao lớp người qua mùa bão nổi,

                                Mà vẹn nguyên vẫn giữ trọn tấm lòng.”

Chính “đời sông” lặng thầm ấy đã chảy tràn qua các mối thâm tình dưới mái trường HUBT. Đặt ở vị trí trân quý nhất trong lòng anh là anh Nguyễn Văn Long đến từ Trung tâm Truyền thông – một trí thức mang chiều sâu lặng thầm từ chiếc nôi Triết học, người luôn “văn tinh võ luyện”, gói trọn phong vị trà sen, khói trầm vào những vần thơ bác học để đồng điệu cùng người bạn tri kỷ qua giấc chiêm bao về người cha hiền. Mạch nguồn nghĩa tình ấy nối dài, hóa thành lời chúc mừng sinh nhật “nam thần” Nguyễn Đức Toàn kiên định trước bão giông tài chính; thành tiếng ca ngợi thầy Phạm Đức Diễn vững thâm niên truyền lửa ngôn từ. Đó còn là vần thơ chúc bình an gửi đồng nghiệp Nguyễn Hường sớm mai trở lại bục giảng sau cơn bạo bệnh, hay cái chạm tay chia sẻ cùng trang văn Nguyễn Nhật Ánh của cô Hải An. Ngay cả nét đẹp tần tảo của chị Lê Thịnh nơi bếp hồng nhà ăn trường cũng đi vào lục bát của anh bằng tất cả sự nâng niu.

Tiếng sóng trong thơ anh vốn là tiếng vỗ của dòng sông Hồng đỏ nặng phù sa, là mùi bùn non ngấm vào ký ức đứa trẻ chăn trâu nơi bãi bồi Yên Mỹ, Thanh Trì thuở nào. Để rồi khi đứng trước một cơn mưa rào thường nhật, chứng kiến bánh xe thời gian lặng lẽ vần xoay, anh lại trầm ngâm suy ngẫm, nhận ra giá trị thiêng liêng của tình người giữa dòng chảy vô thường:

“Người như giọt nước long lanh,

Chỉ còn thương mến hóa thành bình yên.”

Ở anh là sự dung hòa giữa nét mềm mại của trang thơ và khí chất mạnh mẽ của người học võ, chơi thể thao. Bước vào ngưỡng tuổi năm mươi, những giờ rèn luyện bền bỉ trên sân cầu lông, pickleball hay câu lạc bộ gym đã bồi đắp cho anh cốt cách nhẫn nại. Anh tìm đến võ thuật và thể thao để đối thoại với chính mình: “Thắng người một thuở, thắng mình ngàn năm.” Bản lĩnh ấy giúp anh giữ tâm vững chãi trước sóng gió. Để rồi khi đồng điệu cùng ý thơ “Chén Càn Khôn” của thầy Trần Đình Bích, anh tự tại chọn cho mình tâm thế ngông mà tỉnh, sẵn sàng dốc ngược cả càn khôn vào một chén đời đầy nhân nghĩa.

Ba mươi năm HUBT – Lối về của những bình yên

Mùa thu năm 2026, trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội (HUBT) tự hào đánh dấu chặng đường 30 năm thành lập. Gần hai mươi năm đồng hành cùng Khoa Tiếng Anh A, anh đã gửi lại thanh xuân trên từng vệt phấn mờ nơi hành lang giảng đường quen thuộc. Hướng tới đại lễ, hồn thơ anh hòa chung vào khúc tráng ca “Rạng Ngời Ánh Quang Kinh Công”. Anh kính cẩn viết về thuở dựng nghiệp đầy gian khó của cố Giáo sư Trần Phương; anh reo vui chứng kiến dòng chảy tri thức mở rộng từ bến Vĩnh Tuy đến đất Từ Sơn, và tự hào hòa nhịp cùng mái trường đang mạnh mẽ chuyển mình số hóa, khai phóng tư duy trong kỷ nguyên mới.

Trong viễn cảnh của những ngày vui ấy, sau khi những thanh âm náo nhiệt khép lại, người thầy ấy vẫn sẽ chọn đứng lặng lẽ dưới tán cây sân trường, tự tại như chính nếp nhà sàn mang tên Mộc Vân Quang anh dựng giữa thung lũng mây ngàn Hòa Bình – nơi thảnh thơi đón đợi một cuộc đời bình lặng.

Trọn vẹn một hành trình, anh chính là minh chứng cho câu nói mình từng viết trong tản văn: “Không phải ai cũng cần đi thật xa để chạm tới những chân trời rộng lớn. Có những người, chỉ cần đứng yên trên một bãi bồi cũ... mà vẫn nghe được tiếng sóng gọi đời mình.”

Mái tóc anh nay đã điểm vài sợi bạc, nhưng ngọn lửa nghĩa tình và nụ cười hiền hậu chưa bao giờ vơi cạn. Anh vẫn ở đây, vừa là người thầy kiên định trên bục giảng, vừa là người đàn ông tĩnh lặng bên tách cà phê đón ngày mới – lặng lẽ gạn đục khơi trong giữa sương gió cuộc đời để giữ lại cho riêng mình, cho tôi, và cho HUBT một khoảng trời bình an.

(Mộc Vân Quang - HN, 23.6.2026)

 


Thứ Ba, 23 tháng 6, 2026

LẶNG LẼ SÓNG BỒI

 



LẶNG LẼ SÓNG BỒI

 

Nửa đời nếm trải viễn phương,

Bristol gió lạnh, dặm trường Sydney.

Về bên bục giảng thầm thì,

Gấp đôi cánh chữ, hướng đi học trò.

 

Mái tôn hầm hập chuyến đò,

Bánh mì góc lớp, nhỏ to tình thầy.

Ngỡ vương sương tuyết phương Tây,

Lại say lục bát đượm đầy duyên Vân.

 

Bến quê Yên Mỹ dấu chân,

Sông Hồng đỏ nặng, tảo tần phù sa.

Kinh Công thắp nghĩa giao hòa,

Chén càn khôn dốc, làm quà tri âm.

 

Quyền kinh, kiếm khí âm thầm,

Lòng như mặt nước, giữ tâm giữa đời.

Hòa Bình mây trắng lững lờ,

Mộc Vân Quang dựng, đợi chờ bình yên.

 

Tóc sương giọt nước dịu hiền,

Gạn trong để giữ một miền tinh khôi.

Đứng yên trên một bãi bồi,

Mà nghe sóng gọi... trọn đời an nhiên.


(Quang Đặng - Góc phố HN, 24.6.2026)


Xuân Thu Độc Ẩm

 



Xuân Thu Độc Ẩm

 

Tóc điểm sương rồi, chí vẫn xanh,

Năm mươi tuổi đời, bước độc hành.

Chuông nhà thờ cổ - sầu viễn xứ,

Sách lộng đèn khuya - rõ sử xanh.

 

Gió bụi giảng đường quên chức tước,

Cỏ hoa góc quán nhớ tàn canh.

Cầm tay quá khứ cười an phận,

Một bóng, trà thơm, một tiếng oanh.


Đêm độc ẩm, tháng 6/2026

Quang Đặng


Giảng đường phấn bụi, buông danh lợi,

Bảng trắng, lòng trong, chẳng cạnh tranh

Cười với nhân gian, buông mọi chấp,

Một trà, một nguyệt, một tâm lành.


25.6.2026

Mr. Diễn - KAB HUBT


Hương Thuở Ấy

 




Hương Thuở Ấy

 

Giao mùa chuyển tiết dạ còn vương,

Nhạt nắng đêm dài đượm chút hương.

Cạnh lối tìm về thơm nét cũ,

Vắng người tựa thể bại phong sương.

 

Ngước mắt ơn Trời duyên kiếp hợp,

An lòng tạ Đất cõi đời thường.

Dẫu gội sương pha màu tóc bạc,

Tình hồng vẹn sắc thuở yêu đương.


(Quang Đặng - FKA, 24.6.2026)


BÓNG CHA

  BÓNG CHA   Chiều nghiêng bóng đổ hiên nhà, Dáng cha che nửa nắng tà cuối sân. Đời con lớn theo dấu chân, Vô tâm đâu biết tóc dần bạc phai....