Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2026

ĐẤT NƯỚC TRỌN NIỀM VUI

 


Nghe “Đất nước trọn niềm vui” trong tháng Tư

Tháng Tư luôn trở lại trong ký ức dân tộc bằng một sắc trời rất riêng: vừa rực rỡ, vừa lắng sâu. Đó là tháng của những ngày không thể quên, khi lịch sử khép lại một chặng trường chinh đầy gian khổ để mở ra buổi sáng hòa bình, thống nhất, sum họp. Trong không gian thiêng liêng ấy, có những ca khúc không chỉ để nghe, mà để nhớ, để xúc động, để thấy trái tim mình ngân lên cùng nhịp đập của non sông. Và trong số ấy, “Đất nước trọn niềm vui” của nhạc sĩ Hoàng Hà là một giai điệu đặc biệt như thế.

Chỉ cần những câu nhạc đầu tiên cất lên, người nghe đã cảm nhận được ngay không khí của một ngày lịch sử lớn lao: ngày đất nước liền một dải, ngày Bắc – Nam sum họp, ngày niềm vui dân tộc vỡ òa sau bao năm dài chia cắt. Đây không chỉ là một bài hát mừng chiến thắng. Sâu xa hơn, đó là khúc ca của đoàn tụ, của hòa bình, của một dân tộc đã đi qua mất mát để chạm tới giờ phút vẹn tròn.

Điều làm nên giá trị đặc biệt của ca khúc này trước hết nằm ở hoàn cảnh ra đời hiếm có của nó. Theo nhiều tư liệu, nhạc sĩ Hoàng Hà viết “Đất nước trọn niềm vui” vào đêm 26/4/1975 tại Hà Nội, khi những tin thắng trận từ miền Nam liên tiếp dội về, khi cả dân tộc đang sống trong một tâm thế chờ đợi khẩn trương, hồi hộp và tràn đầy tin tưởng. Bài hát ra đời trước ngày 30/4 chỉ ít hôm, như một linh cảm nghệ thuật hòa vào chính bước đi thần tốc của lịch sử. Nếu có những ca khúc cất lên sau chiến thắng để ca ngợi chiến thắng, thì ở đây, âm nhạc dường như đã đi trước một nhịp, cất tiếng ngay trong thời khắc dân tộc đang tiến gần đến giờ phút toàn thắng.

Bởi thế, nghe “Đất nước trọn niềm vui”, ta không chỉ nghe một giai điệu đẹp, mà còn nghe được hơi thở của thời đại. Âm hưởng bài hát mang dáng dấp một khúc khải hoàn: tươi sáng, rộn ràng, rộng mở. Câu nhạc như nâng bước chân người đi giữa cờ hoa, giữa tiếng reo vui của ngày non sông thu về một mối. Nhưng ca khúc không chỉ có vẻ rực rỡ bề ngoài. Ẩn dưới niềm hân hoan ấy là một chiều sâu xúc động rất lớn, bởi niềm vui này không đến dễ dàng. Nó được đổi bằng biết bao năm tháng chiến tranh, bằng biết bao hy sinh, mất mát, chia lìa và chờ đợi. Vì thế, bài hát vừa hùng tráng, vừa thiêng liêng; vừa náo nức, vừa đằm sâu.

Nhan đề “Đất nước trọn niềm vui” cũng là một cách khái quát thật đẹp tinh thần của tác phẩm. Đó không phải niềm vui của riêng một thành phố, một đoàn quân hay một vùng đất. Đó là niềm vui chung của cả dân tộc khi chiến tranh khép lại, khi đất nước không còn chia cắt, khi khát vọng thống nhất đã trở thành hiện thực. Bởi vậy, bài hát không dừng ở ý nghĩa của một bản hành khúc chiến thắng. Nó còn là tiếng hát của hòa bình, của đoàn tụ, của phẩm giá Việt Nam sau những thử thách lớn lao của lịch sử.

Có lẽ cũng vì chạm đúng vào mạch cảm xúc sâu thẳm ấy mà ca khúc đã sớm đi vào đời sống công chúng. Chỉ ít ngày sau khi được viết xong, bài hát đã được thu âm và phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam vào sáng 1/5/1975. Bản thu đầu tiên gắn với tiếng hát NSND Trung Kiên – một giọng ca khỏe khoắn, sang trọng, đĩnh đạc, rất phù hợp với khí chất của tác phẩm. Từ đó, “Đất nước trọn niềm vui” trở thành một trong những âm thanh biểu tượng nhất của mùa xuân đại thắng 1975, mỗi lần vang lên là mỗi lần gợi dậy trong lòng người nghe niềm tự hào và xúc động.

Hơn nửa thế kỷ đã đi qua, nhưng sức sống của ca khúc vẫn không hề phai nhạt. Mỗi độ tháng Tư về, khi giai điệu ấy lại ngân lên, người nghe hôm nay không chỉ nhớ về một mốc son của lịch sử dân tộc, mà còn được nhắc nhớ về giá trị của hòa bình, của thống nhất, của những hy sinh đã làm nên ngày sum họp. Đó chính là dấu ấn của một ca khúc lớn: không chỉ lưu giữ một sự kiện, mà còn lưu giữ được tinh thần của cả một thời đại.

Giữa rất nhiều bài hát viết về ngày 30/4, “Đất nước trọn niềm vui” vẫn ở lại bền sâu trong trái tim nhiều thế hệ. Bởi đây không chỉ là khúc ca của chiến thắng, mà trước hết là khúc ca của một dân tộc sau bao đau thương cuối cùng đã được sống trong niềm vui trọn vẹn. Và có lẽ, chính vì thế, mỗi lần nghe lại trong tháng Tư, ta vẫn thấy lòng mình lặng đi rồi bừng sáng – như được chạm vào một thời khắc mà lịch sử, âm nhạc và lòng người đã gặp nhau trong vẻ đẹp vẹn nguyên.

Đất nước trọn niềm vui
Tác giả: Hoàng Hà

Ta đi trong muôn ánh sao vàng, rừng cờ tung bay!
Rộn ràng bao mê say những bước chân dồn về đây.
Sài Gòn ơi!
Vững tin đã bao năm rồi một ngày vui giải phóng.

Ta nghe như vang tiếng Bác Hồ dậy từ non sông!
Rạo rực sao hôm nay, Bác vui với hội toàn dân.
Thành đồng ơi!
Sắt son đã vang khúc khải hoàn.
Ôi! Hạnh phúc vô biên!
Hát nữa đi em, những lời yêu thương.

Hò ơ... ớ hò... ớ hò... ớ hò...
Hội toàn thắng náo nức đất nước,
Ta muốn bay lên, say ngắm sông núi hiên ngang,
Ta muốn reo vang, hát ca muôn đời Việt Nam,
Tổ quốc anh hùng!

Ôi quê hương, dẫu bao lần giặc phá điêu tàn mà vẫn ngoan cường,
Giành một ngày toàn thắng.
Đẹp quá!
Đời rực sáng những ánh mắt lấp lánh.
Ta muốn ôm hôn mỗi tấc đất quê hương,
Ta muốn ca vang bước chân những người chiến sĩ giải phóng kiên cường!

Đêm hoa đăng, những môi cười là bó hoa đời tươi thắm tuyệt vời,
Đẹp niềm tin mãi mãi Tổ quốc muôn đời,
Trọn vẹn cả non sông thống nhất,
Rạng rỡ Việt Nam.

(Quang Đặng - YM, 21.3.2026)


TIẾN VỀ HÀ NỘI

 


Nghe “Tiến về Hà Nội” trong tháng Mười

Tháng Mười về, Hà Nội như chậm lại trong một tầng sâu ký ức. Những con đường quen, những hàng cây cũ, những mái phố trầm mặc dưới nắng thu dường như đều mang trong mình một nỗi nhớ không lời. Có những ngày, chỉ cần một giai điệu cất lên, lòng người đã bỗng nhiên lặng xuống. Và trong những giai điệu ấy, “Tiến về Hà Nội” của Văn Cao luôn trở lại như một âm vang đặc biệt: vừa hào sảng, vừa tha thiết; vừa là khúc ca chiến thắng, vừa là tiếng lòng của một đô thành đi qua lửa đạn để trở về với hòa bình.

Kỳ lạ thay, bài hát ấy lại được viết từ năm 1949, khi ngày Giải phóng Thủ đô vẫn còn ở phía trước. Nghĩa là, vào lúc Hà Nội còn chìm trong khói lửa chiến tranh, Văn Cao đã nghe thấy bằng tâm tưởng bước chân của đoàn quân trở về. Ông đã nhìn thấy bằng trực giác nghệ sĩ một ngày cờ đỏ tung bay, một ngày phố phường rợp niềm vui, một ngày thành phố thân yêu được đón lại ánh sáng độc lập. Vì thế, “Tiến về Hà Nội” không chỉ là bài hát của một sự kiện lịch sử; đó còn là bài hát của niềm tin – niềm tin lớn lao của con người Việt Nam vào ngày chiến thắng tất yếu.

Nhưng giá trị của ca khúc không chỉ nằm ở tính dự cảm ấy. Điều khiến bài hát sống mãi là bởi trong nhịp đi hùng tráng của một bản hành khúc, Văn Cao vẫn giữ được cho Hà Nội vẻ đẹp riêng của mình. Ở đó không chỉ có tiếng bước chân của đoàn quân, mà còn có hồn phố, có sắc thu, có dáng vẻ thanh lịch và sâu lắng của một thành phố nghìn năm văn hiến. Bởi vậy, nghe “Tiến về Hà Nội”, ta không chỉ nghe một khúc quân hành; ta còn nghe thấy hồn Thủ đô đang cựa mình thức dậy trong buổi bình minh lịch sử.

Có lẽ chỉ những nghệ sĩ lớn mới có thể viết về chiến thắng mà không làm mất đi vẻ đẹp của cảm xúc. Văn Cao đã không để ca khúc của mình dừng lại ở niềm vui thời sự. Ông nâng nó lên thành một biểu tượng tinh thần. Trong giai điệu ấy có khí phách của dân tộc, có phẩm giá của Hà Nội, có sự gặp gỡ giữa lịch sử và văn hóa. Thành ra, mỗi lần bài hát vang lên, người nghe không chỉ nhớ tới ngày 10/10/1954, mà còn cảm thấy như đang chạm vào một lớp sâu hơn của thời gian – nơi một dân tộc đã đi qua đau thương bằng lòng dũng cảm, bằng niềm tin và bằng khát vọng trở về.

Trong rất nhiều ca khúc viết về Hà Nội, “Tiến về Hà Nội” vẫn giữ cho mình một chỗ đứng riêng. Bởi bài hát ấy không chỉ kể về ngày đoàn quân vào thành; nó còn kể về một thành phố được hồi sinh, về lòng người được giải phóng, về vẻ đẹp của hòa bình sau những năm dài gian khó. Đó là thứ hòa bình không hời hợt, bởi được đánh đổi bằng biết bao hy sinh. Và cũng vì thế, âm nhạc ở đây không chỉ để ca ngợi, mà còn để tri ân.

Tháng Mười, nghe lại “Tiến về Hà Nội”, ta hiểu vì sao có những bài hát không cũ đi cùng năm tháng. Bởi khi lịch sử đã lùi xa, điều còn lại không chỉ là sự kiện, mà là tinh thần của sự kiện. Văn Cao đã giữ được tinh thần ấy trong âm nhạc của mình: một Hà Nội kiêu hãnh mà thanh tao, một Hà Nội đi qua chiến tranh để càng sáng hơn giá trị của hòa bình, một Hà Nội không chỉ là địa danh, mà là biểu tượng của ký ức, của văn hiến và của cốt cách Việt Nam.

Và có lẽ, đó cũng là lý do mỗi độ 10/10 trở về, giữa bao âm thanh của phố phường hôm nay, lòng người vẫn muốn lặng đi một chút để nghe lại khúc ca năm ấy. Nghe để nhớ một ngày lịch sử. Nghe để yêu hơn Hà Nội. Và nghe để hiểu rằng có những chiến thắng không chỉ được làm nên bằng sức mạnh của vũ khí, mà còn bằng sức mạnh của niềm tin, của tâm hồn và của văn hóa dân tộc.

Lời bài hát “Tiến về Hà Nội”

Trùng trùng quân đi như sóng,
Lớp lớp đoàn quân tiến về.
Chúng ta đi, nghe vui lúc quân thù đầu hàng,
Cờ ngày nào tung bay trên phố.

Trùng trùng say trong câu hát,
Lấp lánh lưỡi lê sáng ngời.
Chúng ta đem vinh quang,
Sức dân tộc trở về,
Cả cuộc đời vui tươi về đây.

[Điệp khúc:]

Năm cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về,
Như đài hoa đón mừng nở năm cánh đào.
Chảy dòng sương sớm long lanh,
Chúng ta ươm lại hoa sắc hương phai ngày xa.
Ôi phố phường Hà Nội xưa yêu dấu!

Những bông hoa ngày mai đón tương lai vào tay,
Những xuân đời mỉm cười vui hát lên.
Khi đoàn quân tiến về là đêm tan dần,
Như mùa xuân xuống cành đường nghe gió về,
Hà Nội bừng tiến quân ca.

 

Tên đầy đủ: Văn Cao (1923–1995), tên khai sinh là Nguyễn Văn Cao.

Giới thiệu vắn tắt:

Văn Cao là một trong những nhạc sĩ lớn nhất của nền âm nhạc Việt Nam hiện đại. Ông sinh ngày 15/11/1923 tại Hải Phòng, mất ngày 10/7/1995 tại Hà Nội. Văn Cao không chỉ nổi tiếng ở lĩnh vực âm nhạc mà còn là nhà thơ, họa sĩ có vị trí đặc biệt trong đời sống văn hóa nghệ thuật Việt Nam thế kỷ XX.

Ông là tác giả của nhiều ca khúc bất hủ như “Tiến quân ca” (sau trở thành Quốc ca Việt Nam), “Trường ca Sông Lô”, “Làng tôi”, “Suối mơ”, “Thiên thai”, “Tiến về Hà Nội”… Âm nhạc Văn Cao vừa giàu chất sử thi, hào hùng, vừa tinh tế, sang trọng và đậm chất trữ tình.

(Quang Đặng - YM, 20.3.2026)

Đêm

 


Đêm


Đêm xuống rất chừng – không gió máy,
Mà tim run nhẹ giữa hư không.
Có bóng quá khứ về ngồi lại,
Rót giùm ly cũ một lần trông.

 


VỀ VỚI ANH




VỀ VỚI ANH

Cảm ơn EM đã về với ANH,
Trong tiết trời lập đông, gió vi vu thổi.
Mưa nhẹ bay trong ánh mắt EM cười và làn tóc rối,
EM đã về rồi để LẮNG lại trong tim.

Em nhẹ nhàng đánh thức miền ký ức đã ngủ yên,
Với bao niềm yêu thương giăng giăng khắp chốn.
Nhớ lúc ngồi bên ANH trong giảng đường B4,
Rồi thơ thẩn cùng nhau dạo bước tới B2.

Có những lúc lặng lẽ, tay sát trong tay,
Dưới phiến đá và lối mòn bên khoa Pháp.
Những đêm tối bình yên trong tiếng gió ru xào xạc,
Ngồi nhìn nhau ở góc thư viện năm nào.

Giờ cùng về với ANH, tim bỗng thấy lao xao,
Cái nắm tay cùng nụ cười trao nhau đêm ấy.
Giữa ánh lửa hồng bập bùng, ta cười giòn đến vậy,
Cùng hẹn nhau, 5 năm nữa ta VỀ! ❤️

DUNG XINH

Thứ Năm, 19 tháng 3, 2026

CUỐI MÙA CẢI TRẮNG

 



CUỐI MÙA CẢI TRẮNG

(Truyện ngắn)

Tháng Chạp lên Mộc Châu, gió cao nguyên thổi theo cách rất riêng – không buốt gắt, chỉ đủ lạnh để người ta chậm lại. Cả thung lũng mở ra dưới bầu trời xanh cao, hoa cải trắng trải dài đến tận chân núi, lặng lẽ như một lớp mây nằm yên trên mặt đất. Cuối mùa rồi, nhưng vẫn trắng. Trắng theo cách không ồn ào, không phô bày, chỉ đủ để ai đi ngang cũng phải dừng bước.

Giữa thung lũng ấy, một căn nhà gỗ nhỏ đứng tách ra khỏi biển hoa. Mái nhà đã ngả màu, vách gỗ sẫm lại theo năm tháng. Không khói bếp, không tiếng người. Căn nhà giống như một dấu chấm lặng, đặt vào giữa không gian mênh mông – để giữ lại một điều gì đó chưa tan đi cùng gió.

Người đàn ông đứng ở rìa bãi cải, lưng quay về phía núi. Anh đứng yên, tay đút túi áo khoác, để gió lùa qua vai. Trước mặt anh, hoa cải cuối mùa rung nhẹ, cánh hoa mỏng nhưng không vội rơi. Anh đã đứng đó khá lâu – đủ để nắng trượt chậm qua mái nhà gỗ, đủ để những điều tưởng đã khép lại lặng lẽ quay về.

Tiếng bước chân phía sau rất khẽ, gần như bị nuốt mất trong gió.

Cô xuất hiện từ con đường đất nhỏ dẫn xuống thung lũng. Áo khoác màu trầm, khăn mỏng, tóc buộc gọn. Gương mặt có nét mệt của người vừa đi qua nhiều chặng đường, nhưng ánh mắt lại yên – thứ yên của người đã quen tự đứng vững giữa những mùa gió ngược.

Cô dừng lại, nhìn thung lũng hoa cải đang sáng lên dưới nắng.

“Cải vẫn còn nở…” – cô nói khẽ – “Em cứ nghĩ, cuối mùa rồi thì chắc chẳng còn mấy.”

Anh quay lại.

Khoảng cách giữa họ không xa, nhưng đủ để cả hai chậm lại. Không phải vì ngại ngần, mà vì đã quen sống với những khoảng lặng dài hơn lời nói.

“Ở đây,” anh nói, giọng thấp, “cải hay nở muộn. Như có thói quen ở lại đến cùng.”

Cô mỉm cười. Nụ cười rất nhẹ, như thể sợ làm xao động không gian đang yên.

“Có những thứ… đi rồi vẫn còn.”

Gió từ thung lũng thổi lên, mang theo mùi hăng nhẹ của hoa cải hòa cùng mùi cỏ non. Cả không gian mở ra như một khung hình tĩnh: núi đứng im, trời cao, căn nhà gỗ nhỏ bé giữa biển trắng, hai con người bước chậm giữa cuối mùa.

Họ đi song song trong bãi cải.

Không ai hỏi vì sao người kia rời đi, cũng không hỏi vì sao bây giờ mới quay lại. Những câu hỏi ấy đã từng nhức nhối, nhưng thời gian đã làm chúng mòn đi, chỉ còn lại sự hiểu ngầm đủ ấm để không cần đào xới.

“Ngày trước,” cô nói, mắt vẫn hướng về triền núi, “em nghĩ chỉ cần đi xa là mọi thứ sẽ nguôi.”

Anh khẽ gật đầu.

“Anh ở lại. Và nhận ra… có những điều không biến mất. Chỉ là mình để nó ngủ yên.”

Họ dừng trước căn nhà gỗ.

Mái nhà thấp, cửa khép hờ. Đứng giữa thung lũng cải trắng, căn nhà không cô độc, mà giống như một nơi đã quen chờ đợi – không vội vàng, không đòi hỏi.

“Anh vẫn giữ nơi này?” – cô hỏi.

“Ừ. Vì có người từng nói… cuối mùa, hoa cải ở đây nhìn buồn mà đẹp.”

Cô cúi xuống, tay chạm nhẹ vào một bông cải gần chân. Cánh hoa mỏng, lạnh, nhưng không dễ vỡ như cô từng nghĩ.

“Nếu em ở lại,” cô nói khẽ, “liệu còn kịp không?”

Anh không trả lời ngay.

Chỉ nhìn thung lũng đang trắng lên trong nắng, nhìn căn nhà gỗ nhỏ bé giữa không gian rộng lớn.

“Cuối mùa rồi,” anh nói chậm, “nhưng chưa phải là hết. Chỉ là mình nhìn khác đi thôi.”

Cô ngẩng lên.

Ánh mắt hai người chạm nhau – không vội, không né tránh. Không cần lời hứa, cũng không cần thanh minh. Chỉ có hiện tại, đủ yên để đứng cạnh nhau giữa thung lũng trắng.

Gió lại thổi.

Hoa cải cuối mùa rung nhẹ, trắng và lặng, như gửi vào không gian một lời chúc không thành tiếng.

Họ bước tiếp giữa bãi cải. Không nắm tay. Không cần nói thêm.

Cuối mùa cải trắng – nhưng không phải là đoạn kết, chỉ là một khoảng lặng đủ sâu, để người ta hiểu rằng: trở về, đôi khi, chính là cách bắt đầu chậm nhất và bền nhất.

(Quang Đặng - HL, 12.12.2025)


MỜI EM BÁT MÌ NGÀY HẠNH PHÚC

 


MỜI EM BÁT MÌ NGÀY HẠNH PHÚC

(Số 181 Lê Lai, Hà Đông, Hà Nội)

Hai mươi tháng Ba dịu dàng,
Em đưa anh ghé quán hàng Lê Lai.

Phố quen nghiêng một sớm mai,
Bát mì vằn thắn khói cài mắt em.

Nước dùng ngọt đến dịu mềm,
Như bao cay đắng lặng im cuối ngày.

Sợi mì mảnh, sợi thương này,
Như em đi giữa đắng cay vẫn bền.

Gần hai mươi năm truân chuyên,
Thuốc còn ở lại, nghĩa duyên còn đầy.

Bao lần mỏi mệt tháng ngày,
Em còn đứng dậy, đủ gây nghẹn lòng.

Thăng trầm mấy nẻo long đong,
Mà em vẫn giữ tấm lòng dịu êm.

Dáng người mà sáng nét em,
Như mang nắng sớm thắp thêm cho đời.

Anh nhìn em, chợt thấy người,
Mỏng như cánh liễu mà ngời bền gan.

Lặng đi qua những trái ngang,
Không nghiêng đổ trước muôn vàn gió mưa.

Ơn ai nâng giấc ngày xưa,
Đỡ em qua những tháng mùa tái tê.

Ơn bao bàn tay chở che,
Gọi em tỉnh thức mà về cùng anh.

Về cùng mái ấm mong manh,
Mà bao thương nhớ đã thành máu da.

Hôm nay ngồi trước bát quà,
Anh không mơ ngọc với hoa cho mình.

Chỉ mong em mãi an bình,
Mãi xinh, mãi trẻ, giữ gìn nét tươi.

Mong em thanh thản môi cười,
Nhẹ lòng, khỏe mạnh giữa đời yêu thương.

Vì con, vì chốn thân thương,
Vì bao người đã mở đường đỡ nâng.

Vì anh còn nặng nghĩa ân,
Còn mong em vững bước gần bước xa.

Xin em nhớ nhé, thật thà,
Uống thuốc đều đặn để mà khỏe lâu.

Bố con anh chỉ một câu:
Có em tỉnh táo, bạc đầu cũng vui.

Mai sau dẫu nắng hay mưa,
Anh còn muốn được đón đưa em hoài.

Và mong mỗi buổi sớm mai,
Lại cùng em ghé Lê Lai quán này.

Bát mì nghi ngút khói bay,
Hạnh phúc đôi lúc chỉ đầy vậy thôi.

Một là em khỏe trong đời,
Hai là em vẫn mỉm cười cùng anh.


(Quang Đặng – Kỷ niệm ngày…tái khám…, 20.3.2026) 



DẤU CHỮ, DẤU ĐỜI

 


DẤU CHỮ, DẤU ĐỜI

Trong chữ NHẸ vẫn còn mang
Dấu NẶNG như nỗi trái ngang cõi đời.

Chữ VỮNG ngỡ đã thảnh thơi,
Vẫn nghiêng một dấu NGÃ rơi giữa lòng.

Chữ HIỂU đâu phải đã xong,
Vẫn còn dấu HỎI chất chồng niềm suy.

NGẮN - DÀI nào dễ phân ly,
Có khi chữ ngắn nói gì cũng sâu.

Muốn nên KHÔN lớn về sau,
Phải qua KHỜ dại, qua đau mới thành.

SUNG SƯỚNG đi với GIAN TRUÂN,
Như mây với gió, như gần với xa.

HẠNH PHÚC đi cạnh xót xa,
BI THƯƠNG nhiều lúc chỉ là một gang.

TÌNH YÊU tha thiết dịu dàng,
Cũng gần PHẢN BỘI như làn khói bay.

SỰ THẬT lắm nỗi đắng cay,
GIẢ DỐI cũng khéo phủ đầy như không.

BẠN BÈ chung một tấm lòng,
Mà khi trái ý hóa dòng cách xa.

Nụ CƯỜI vẫn ở gần ta,
KHÓC kia cũng chỉ xót xa một vần.

YÊU thương hết hóa HẬN thù,
Ta người đổi chỗ bao thu trong đời.

Ừ nghe rất nhẹ trên môi,
Mà nhiều khi hóa thành lời nghẹn đau.

Lặng nhìn một thoáng cúi đầu,
Mới hay trong MẤT ẩn màu của SINH.

(Quang Đặng – TH, 19.3.2026)

 

Thứ Tư, 18 tháng 3, 2026

HÀNH TRANG TỪ TIẾNG CHÀO

 


HÀNH TRANG TỪ TIẾNG CHÀO

Một lời nhỏ, một nếp đẹp, một cốt cách lớn

Có những điều tưởng chừng rất nhỏ, nhưng đủ làm nên vẻ đẹp bền lâu của một con người. Một tiếng chào đúng lúc không chỉ mở đầu một cuộc giao tiếp, mà còn bộc lộ sự tôn trọng, nếp giáo dưỡng và chiều sâu văn hóa. Từ trải nghiệm của một người thầy nhiều năm đứng lớp, từng đi qua nhiều miền đất và tiếp xúc nhiều nền văn hóa, đây là một lời nhắn gửi chân thành tới sinh viên: hãy giữ tiếng chào như giữ lấy một nét đẹp của tâm hồn.

Trên hành trình dạy học và tự học, tôi đã có dịp đi qua nhiều miền đất, gặp gỡ nhiều con người, lắng nghe nhiều ngôn ngữ. Mỗi nơi đều để lại một dấu ấn riêng. Nhưng ở đâu tôi cũng nhận ra một điều nhỏ bé mà bền sâu: tiếng chào.

Chỉ một lời chào thôi, ngắn và nhẹ, mà có thể làm ấm một buổi sớm, làm dịu một ánh nhìn, mở ra một cuộc gặp gỡ và để lại trong lòng người một dư vị đẹp. Con người có thể khác nhau về tập quán, ngôn ngữ, diện mạo, nhưng sự tử tế trong giao tiếp dường như luôn gặp nhau ở một điểm chung: biết dành cho nhau một lời chào chân thành.

Đi nhiều hơn, tôi càng hiểu rằng văn minh không chỉ hiện lên ở những điều lớn lao, mà còn được bộc lộ qua những chi tiết nhỏ của đời sống thường ngày. Một tiếng chào đúng mực là biểu hiện của sự tôn trọng, của nền nếp, của giáo dưỡng. Nó không làm con người nhỏ đi; trái lại, làm cho con người trở nên đáng quý hơn.

Sinh viên hôm nay đang bước vào một thế giới rộng mở, nơi tri thức và cơ hội luôn ở phía trước. Nhưng đi xa đến đâu, mỗi người vẫn cần mang theo cho mình những giá trị nền tảng. Bởi điều làm nên sức bền của một con người không chỉ là năng lực, mà còn là nhân cách; không chỉ là thành công, mà còn là cách ta hiện diện giữa cuộc đời bằng sự tử tế.

Từ suy nghĩ ấy, tôi viết bài thơ này như một lời gửi gắm tới các em sinh viên và những lớp học trò đã, đang và sẽ đi qua đời dạy học của mình: hãy biết quý một tiếng chào, vì nhiều điều tốt đẹp trong cuộc sống thường bắt đầu từ những gì rất đỗi giản dị.


 

HÀNH TRANG TỪ TIẾNG CHÀO

Giữa bao rộng mở đường đời,
Điều sâu bền nhất vẫn ngời trong tâm.
Không từ lời đẹp vang âm,
Mà từ một nét duyên ngầm trao nhau.

Tiếng chào mỏng nhẹ mà sâu,
Như làn gió sớm thấm màu ban mai.
Nhẹ thôi mà đủ nối dài,
Một niềm tôn trọng giữa người với ta.

Tiếng chào chẳng ngọc, chẳng ngà,
Mà hơn nhiều vẻ kiêu sa bên ngoài.
Bởi trong một tiếng trao ai,
Có lòng tử tế, có vài yêu thương.

Mai này đi khắp muôn phương,
Học cao, hiểu rộng, dặm đường mở ra.
Xin đừng để giữa phồn hoa,
Mất đi nét đẹp nở hoa tâm hồn.

Chào bằng ánh mắt trong hơn,
Bằng câu chân thật, bằng lòng khiêm cung.
Chào thầy, chào bạn, chào chung,
Những người ta gặp giữa vòng đời quen.

Một lời đâu mất gì thêm,
Mà vui gương mặt, mà êm một ngày.
Dư âm còn đọng đâu đây,
Chút hương rất nhẹ mà đầy trong tim.

Mai này đi khắp nổi chìm,
Dẫu bao mưa nắng lặng im tháng ngày.
Giữa dòng xuôi ngược vơi đầy,
Mong em giữ tiếng nhẹ lay bên mình.

Sách kia rồi cũng lặng thinh,
Lời thầy trên lớp phai hình theo năm.
Chỉ mong em giữ trong tâm,
Nét đẹp văn hóa xứng tầm Việt Nam.


(Quang Đặng - HUBT, 19.3.2026)


THU THÌ THẦM BẾN CŨ

 



THU THÌ THẦM BẾN CŨ

Thu về nép dưới hiên xưa,
Cúc vàng khẽ chạm gió lùa heo may.
Lao xao một thoáng lá bay,
Mà nghe ký ức thức đầy lối quen.

Con đường hẹn cũ êm đềm,
Lá nghiêng lối nhỏ, vàng lên năm nào.
Anh mang nỗi nhớ thanh tao,
Dệt cùng mây tím rót vào quạnh sâu.

Ngõ im vương một sắc màu,
Chiều buông rất nhẹ qua cầu nhớ nhung.
Có điều chẳng thể gọi cùng,
Anh nhờ tia nắng chở giùm bóng em.

Em ơi, thu cũ còn êm,
Vàng như buổi ấy bên thềm quen nhau.
Bên hồ ai bước qua mau,
Làm xao xác lá, nhuốm sầu khói sương.

Lối tìm em, một con đường,
Bao năm còn giữ dư hương dịu dàng.
Tình xưa chưa kịp phai tàn,
Mà hơi ấm cũ còn mang cuối chiều.

Ngoài hiên gió chạm rèm thưa,
Trăng nghiêng bên cửa như vừa thở than.
Thì thầm một mối nồng nàn,
Rằng duyên xưa ấy chưa tàn, phải không?

Anh nghe thu chạm nao lòng,
Nghe trong yên vắng mênh mông bến chờ.
Chỉ mong em hiểu bây giờ,
Tim anh vẫn đợi như bờ đợi sông.


(Quang Đặng - Chiều nhớ..., 18.3.2026)

 


Thứ Ba, 17 tháng 3, 2026

ĐI QUA NGÔN NGỮ ĐỂ ĐẾN VỚI CON NGƯỜI

 



Có những nghề đến với ta như một cuộc hẹn. Cũng có những nghề, càng đi lâu càng nhận ra đó không chỉ là công việc, mà còn là một cách sống, một cách yêu thương và một cách nhìn thế giới bằng đôi mắt sâu hơn, dịu hơn. Với tôi, ngoại ngữ là một cuộc hẹn như thế.

Tôi đến với tiếng Anh từ những năm tháng còn khá trẻ, khi trong lòng chỉ mang một niềm háo hức giản dị: được hiểu thêm một ngôn ngữ khác, một nền văn hóa khác, một cách tư duy khác. Khi ấy, tôi chưa thể hình dung rằng sau này, chính tiếng Anh sẽ đưa mình đi qua nhiều miền đất, gặp gỡ nhiều con người và bước vào những không gian rất khác nhau của đời sống: từ những phòng họp trang trọng của các cuộc phiên dịch cấp cao đến lớp học ấm ánh đèn, nơi một em bé đang tập phát âm những âm đầu tiên, hay một người đã đứng tuổi lặng lẽ viết lại một câu chào hỏi cho thật tròn trịa.

Những năm làm phiên dịch viên là một quãng đời đặc biệt. Đó là công việc đòi hỏi sự chính xác, phản xạ nhanh, bản lĩnh nghề nghiệp và cả sự khiêm nhường. Nhiều người nghĩ rằng phiên dịch đơn thuần là chuyển lời từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. Nhưng càng làm lâu, tôi càng hiểu: phiên dịch không chỉ là chuyển chữ. Đó là chuyển tải thần thái của lời nói, sắc độ của cảm xúc, chiều sâu của ngữ cảnh, và đôi khi là cả nhịp rung rất khẽ của một cuộc gặp gỡ.

Tôi vẫn nhớ cảm giác ngồi trong một hội trường lớn, tai nghe áp sát, trước mặt là cuốn sổ ghi chép và phía dưới là những hàng ghế trang nghiêm. Người phát biểu trên bục nói bằng giọng điềm tĩnh, còn bên dưới là những ánh mắt đang chờ đợi từng ý được truyền đi trọn vẹn. Trong khoảnh khắc ấy, tôi hiểu mình không được phép sai, không chỉ vì yêu cầu chuyên môn, mà còn vì sự tôn trọng dành cho cả người nói lẫn người nghe. Có những câu tưởng như rất đơn giản, nhưng chỉ cần chọn lệch một từ, sắc thái đã đổi khác. Có những cuộc trao đổi bề ngoài chỉ xoay quanh công việc, nhưng phía sau là uy tín, là thiện chí, là cả một nhịp cầu mong manh nối hai bên lại gần nhau hơn.

Nghề phiên dịch dạy cho tôi bài học lớn về lắng nghe. Muốn dịch đúng, trước hết phải nghe cho thấu. Nghe từ ngữ, nghe ý tứ, nghe cả những điều không nói ra thành lời. Nhiều khi người nói chỉ dừng lại một nhịp ngắn, nhưng trong khoảng lặng ấy có thể chứa cả sự cân nhắc, một nét ngoại giao, hoặc một cảm xúc cần được gìn giữ nguyên vẹn khi chuyển sang ngôn ngữ khác. Làm nghề này, tôi học được cách lùi lại một bước, để lời nói của người khác được sáng lên, để ý tưởng của họ được đi đến nơi cần đến bằng con đường ngắn nhất và đúng nhất.

Ngoại ngữ cũng mở ra cho tôi cơ hội được đi nhiều nơi. Tôi từng có thời gian học tập tại Anh, Úc; rồi qua những chuyến công tác và những khóa học ngắn hạn, tôi có dịp đặt chân đến Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Malaysia, Thái Lan… Mỗi đất nước để lại trong tôi một dấu ấn riêng, không chỉ bởi cảnh quan hay nhịp sống, mà còn bởi phong cách sống của con người nơi đó.

Ở Anh, tôi ấn tượng với sự điềm đạm và cách người ta tôn trọng không gian của nhau. Mọi thứ dường như được đặt trong một trật tự chừng mực, nhưng không vì thế mà trở nên xa cách. Ở Úc, tôi cảm nhận rõ tinh thần cởi mở, thực tế và khoáng đạt. Người ta có thể trò chuyện với nhau rất thân thiện và bình đẳng, bất kể khoảng cách tuổi tác hay vị trí xã hội. Ở Nhật Bản, tôi học được sự chỉn chu gần như tuyệt đối trong từng chi tiết nhỏ. Một cái cúi chào, một lời cảm ơn, một khoảng lặng đúng lúc cũng đủ cho thấy chiều sâu của văn hóa nước này. Ở Hàn Quốc, tôi cảm nhận một nhịp sống mạnh mẽ, khẩn trương nhưng vẫn giữ được sợi dây gắn bó bền chặt với gia đình và truyền thống. Còn Singapore, Malaysia hay Thái Lan lại cho tôi thấy vẻ đẹp của sự giao thoa: nhiều ngôn ngữ, nhiều sắc tộc, nhiều tầng văn hóa cùng hiện diện trong một nhịp sống hiện đại mà vẫn không đánh mất bản sắc riêng.

Sau mỗi chuyến đi, tôi càng tin rằng học ngoại ngữ không phải để trở thành một phiên bản khác của người khác, mà để mở rộng chính mình. Biết thêm một ngôn ngữ là có thêm một cánh cửa để bước ra thế giới; đồng thời cũng là mở thêm một ô cửa để nhìn sâu hơn vào tiếng mẹ đẻ, vào quê hương và vào căn cốt văn hóa của chính mình.

Có lẽ cũng bởi vậy mà sau những năm tháng làm phiên dịch, tôi dần nghiêng nhiều hơn về giáo dục. Tôi nhận ra mình muốn đi xa hơn việc chuyển tải lời nói; tôi muốn góp phần nuôi dưỡng những con người có thể tự mình bước qua những ranh giới ngôn ngữ. Nghề dạy học đến với tôi như một lẽ tự nhiên, nhưng để đi cùng nghề lâu dài, chỉ kiến thức thôi chưa đủ. Cần lòng kiên nhẫn, cần niềm tin, cần một trái tim đủ ấm để không sốt ruột trước những bước tiến chậm, và đủ sáng để nhận ra những mầm xanh rất nhỏ đang lặng lẽ lớn lên từng ngày.

Tôi đã có cơ hội dạy nhiều đối tượng khác nhau: từ trẻ em còn e dè với bảng chữ cái đầu tiên, đến những người trưởng thành bận rộn giữa bộn bề công việc, thậm chí cả những người có học vị cao, vị trí cao trong xã hội nhưng vẫn khiêm nhường ngồi vào bàn học như một người bắt đầu lại. Điều khiến tôi xúc động nhất không phải là điểm số hay chứng chỉ, mà là những khoảnh khắc rất đỗi con người. Một đứa trẻ phát âm đúng một âm khó rồi tự vỗ tay vì sung sướng. Một bác lớn tuổi nhắn rằng hôm nay đã có thể tự tin trò chuyện với người nước ngoài. Một học viên từng sợ tiếng Anh nay bắt đầu yêu việc đọc, yêu nghe, và chấp nhận cả những lỗi sai của mình như một phần tất yếu của hành trình học tập.

Mỗi người học là một câu chuyện riêng. Có em học để tiến gần hơn đến giấc mơ du học. Có người học để mở rộng cơ hội nghề nghiệp. Có người học chỉ vì một mong muốn rất giản dị: không để mình bị bỏ lại phía sau trong một thế giới đang đổi thay từng ngày. Là người đứng lớp, tôi hiểu mình không chỉ dạy từ vựng, ngữ pháp hay phát âm. Điều tôi luôn mong gieo vào học trò còn là sự tự tin, tính kỷ luật và một thứ ánh sáng bên trong để các em, và cả những người trưởng thành, có thể bước đi vững vàng hơn trên con đường của mình.

Điều đẹp nhất ở nghề giáo, theo tôi, là được chứng kiến sự nở hoa. Có những bông hoa nở sớm. Có những bông hoa cần rất nhiều thời gian mới nở đúng mùa. Công việc của người dạy không phải là ép cánh hoa bung nở, mà là chăm đất, tưới cây, giữ nắng và giữ niềm tin. Tôi vẫn thường nói với học trò rằng học ngoại ngữ là một hành trình dài, nhưng không hề vô ích. Mỗi từ mới, mỗi lần dám cất lời, mỗi lỗi sai được sửa đều là một viên gạch nhỏ âm thầm xây nên cây cầu của ngày mai.

Có lẽ vì đời sống nghề nghiệp luôn gắn với ngôn ngữ nên trong những giờ rảnh hiếm hoi, tôi thường tìm về những điều rất yên. Tôi thích chăm cây, ngắm hoa, nhìn đàn cá lội tung tăng trong làn nước trong. Đôi khi chỉ một chồi non vừa nhú, một cánh hoa vừa hé, một vòng sóng lăn tăn trong bể cá cũng đủ làm lòng mình dịu lại. Tôi cũng thích làm thơ, viết văn, ghi chép những cảm xúc nhỏ bé nhưng chân thành của đời sống. Sau nhiều năm đi qua những cuộc gặp gỡ, những chuyến đi, những giờ dạy và những mùa suy ngẫm, tôi hiểu rằng con người cần có một nơi để trở về bên trong chính mình. Với tôi, trang giấy là một nơi như thế.

Nghề phiên dịch cho tôi khả năng lắng nghe thế giới. Nghề dạy học cho tôi cơ hội gieo những hạt mầm vào lòng người. Còn văn chương, cây lá, hoa cỏ giúp tôi giữ lại phần mềm mại của tâm hồn giữa một đời sống nhiều vội vã. Tôi biết ơn tất cả những điều ấy. Bởi nhờ chúng, tôi không chỉ sống với nghề, mà còn sống sâu hơn với con người và với chính mình.

Nếu phải đúc lại hành trình làm nghề của mình trong một câu ngắn gọn, tôi sẽ nói rằng: ngôn ngữ chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó làm con người xích lại gần nhau hơn. Một bản dịch tốt không chỉ giúp hai bên hiểu nhau. Một giờ học tốt không chỉ giúp người học tiến bộ. Điều quý nhất là qua từng lời nói, từng bài giảng, từng cuộc gặp gỡ, ta làm cho thế giới bớt xa lạ, bớt lạnh lẽo, và con người bớt lạc nhau hơn.

Có lẽ vì thế mà đến hôm nay, tôi vẫn yêu nghề này bằng một tình cảm bền bỉ và lòng biết ơn sâu sắc. Bởi mỗi ngày được đứng giữa ngôn ngữ và con người, tôi thấy mình vẫn đang âm thầm làm một công việc đẹp: nối những nhịp cầu. Giữa quốc gia với quốc gia. Giữa thầy với trò. Giữa người với người. Và đôi khi, còn là nối giữa hôm qua với hôm nay, giữa một ước mơ nhỏ bé thuở ban đầu với một hành trình đã đi qua biết bao mùa nắng gió mà trong lòng vẫn còn nguyên một niềm tin ấm áp.


(Quang Đặng - FKA, 18.3.2026)

 


ĐẤT NƯỚC TRỌN NIỀM VUI

  Nghe “Đất nước trọn niềm vui” trong tháng Tư Tháng Tư luôn trở lại trong ký ức dân tộc bằng một sắc trời rất riêng: vừa rực rỡ, vừa lắng...