Thứ Tư, 18 tháng 3, 2026

THU THÌ THẦM BẾN CŨ

 



THU THÌ THẦM BẾN CŨ

Thu về nép giữa hiên xưa,
Cúc vàng khe khẽ đón mùa heo may.
Lao xao một thoáng lá bay,
Mà nghe như cả những ngày cũ sang.

Tình yêu còn đợi bên ngàn,
Con đường hò hẹn lá vàng phủ nghiêng.
Anh mang nỗi nhớ dịu hiền,
Dệt cùng mây tím qua miền quạnh sâu.

Ngõ xưa lặng một sắc màu,
Chiều buông chạm khẽ lên câu ân tình.
Yêu thương ở tận tim mình,
Anh nhờ vạt nắng chuyển hình bóng em.

Em ơi, thu vẫn êm đềm,
Vẫn vàng như buổi đầu tiên hẹn hò.
Bàn chân ai bước bên hồ,
Làm xao xác lá, làm mờ khói sương.

Lối tìm em, lối yêu thương,
Bao năm vẫn giữ một phương dịu dàng.
Tình xưa chưa kịp úa tàn,
Vẫn nguyên hơi ấm như ngàn thu qua.

Ngoài hiên gió chạm rèm sa,
Trăng nghiêng bên cửa như là thở than.
Thì thầm chuyện cũ nồng nàn,
Rằng duyên đôi lứa chưa tàn, phải không?

Anh nghe trong tiếng thu lòng,
Có lời nhắn gửi mênh mông bến chờ.
Chỉ mong em hiểu bây giờ,
Tim anh vẫn đợi như bờ đợi sông.


(Quang Đặng - Chiều nhớ..., 18.3.2026)

 


Thứ Ba, 17 tháng 3, 2026

ĐI QUA NGÔN NGỮ ĐỂ ĐẾN VỚI CON NGƯỜI

 



Có những nghề đến với ta như một cuộc hẹn. Cũng có những nghề, càng đi lâu càng nhận ra đó không chỉ là công việc, mà còn là một cách sống, một cách yêu thương và một cách nhìn thế giới bằng đôi mắt sâu hơn, dịu hơn. Với tôi, ngoại ngữ là một cuộc hẹn như thế.

Tôi đến với tiếng Anh từ những năm tháng còn khá trẻ, khi trong lòng chỉ mang một niềm háo hức giản dị: được hiểu thêm một ngôn ngữ khác, một nền văn hóa khác, một cách tư duy khác. Khi ấy, tôi chưa thể hình dung rằng sau này, chính tiếng Anh sẽ đưa mình đi qua nhiều miền đất, gặp gỡ nhiều con người và bước vào những không gian rất khác nhau của đời sống: từ những phòng họp trang trọng của các cuộc phiên dịch cấp cao đến lớp học ấm ánh đèn, nơi một em bé đang tập phát âm những âm đầu tiên, hay một người đã đứng tuổi lặng lẽ viết lại một câu chào hỏi cho thật tròn trịa.

Những năm làm phiên dịch viên là một quãng đời đặc biệt. Đó là công việc đòi hỏi sự chính xác, phản xạ nhanh, bản lĩnh nghề nghiệp và cả sự khiêm nhường. Nhiều người nghĩ rằng phiên dịch đơn thuần là chuyển lời từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. Nhưng càng làm lâu, tôi càng hiểu: phiên dịch không chỉ là chuyển chữ. Đó là chuyển tải thần thái của lời nói, sắc độ của cảm xúc, chiều sâu của ngữ cảnh, và đôi khi là cả nhịp rung rất khẽ của một cuộc gặp gỡ.

Tôi vẫn nhớ cảm giác ngồi trong một hội trường lớn, tai nghe áp sát, trước mặt là cuốn sổ ghi chép và phía dưới là những hàng ghế trang nghiêm. Người phát biểu trên bục nói bằng giọng điềm tĩnh, còn bên dưới là những ánh mắt đang chờ đợi từng ý được truyền đi trọn vẹn. Trong khoảnh khắc ấy, tôi hiểu mình không được phép sai, không chỉ vì yêu cầu chuyên môn, mà còn vì sự tôn trọng dành cho cả người nói lẫn người nghe. Có những câu tưởng như rất đơn giản, nhưng chỉ cần chọn lệch một từ, sắc thái đã đổi khác. Có những cuộc trao đổi bề ngoài chỉ xoay quanh công việc, nhưng phía sau là uy tín, là thiện chí, là cả một nhịp cầu mong manh nối hai bên lại gần nhau hơn.

Nghề phiên dịch dạy cho tôi bài học lớn về lắng nghe. Muốn dịch đúng, trước hết phải nghe cho thấu. Nghe từ ngữ, nghe ý tứ, nghe cả những điều không nói ra thành lời. Nhiều khi người nói chỉ dừng lại một nhịp ngắn, nhưng trong khoảng lặng ấy có thể chứa cả sự cân nhắc, một nét ngoại giao, hoặc một cảm xúc cần được gìn giữ nguyên vẹn khi chuyển sang ngôn ngữ khác. Làm nghề này, tôi học được cách lùi lại một bước, để lời nói của người khác được sáng lên, để ý tưởng của họ được đi đến nơi cần đến bằng con đường ngắn nhất và đúng nhất.

Ngoại ngữ cũng mở ra cho tôi cơ hội được đi nhiều nơi. Tôi từng có thời gian học tập tại Anh, Úc; rồi qua những chuyến công tác và những khóa học ngắn hạn, tôi có dịp đặt chân đến Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Malaysia, Thái Lan… Mỗi đất nước để lại trong tôi một dấu ấn riêng, không chỉ bởi cảnh quan hay nhịp sống, mà còn bởi phong cách sống của con người nơi đó.

Ở Anh, tôi ấn tượng với sự điềm đạm và cách người ta tôn trọng không gian của nhau. Mọi thứ dường như được đặt trong một trật tự chừng mực, nhưng không vì thế mà trở nên xa cách. Ở Úc, tôi cảm nhận rõ tinh thần cởi mở, thực tế và khoáng đạt. Người ta có thể trò chuyện với nhau rất thân thiện và bình đẳng, bất kể khoảng cách tuổi tác hay vị trí xã hội. Ở Nhật Bản, tôi học được sự chỉn chu gần như tuyệt đối trong từng chi tiết nhỏ. Một cái cúi chào, một lời cảm ơn, một khoảng lặng đúng lúc cũng đủ cho thấy chiều sâu của văn hóa nước này. Ở Hàn Quốc, tôi cảm nhận một nhịp sống mạnh mẽ, khẩn trương nhưng vẫn giữ được sợi dây gắn bó bền chặt với gia đình và truyền thống. Còn Singapore, Malaysia hay Thái Lan lại cho tôi thấy vẻ đẹp của sự giao thoa: nhiều ngôn ngữ, nhiều sắc tộc, nhiều tầng văn hóa cùng hiện diện trong một nhịp sống hiện đại mà vẫn không đánh mất bản sắc riêng.

Sau mỗi chuyến đi, tôi càng tin rằng học ngoại ngữ không phải để trở thành một phiên bản khác của người khác, mà để mở rộng chính mình. Biết thêm một ngôn ngữ là có thêm một cánh cửa để bước ra thế giới; đồng thời cũng là mở thêm một ô cửa để nhìn sâu hơn vào tiếng mẹ đẻ, vào quê hương và vào căn cốt văn hóa của chính mình.

Có lẽ cũng bởi vậy mà sau những năm tháng làm phiên dịch, tôi dần nghiêng nhiều hơn về giáo dục. Tôi nhận ra mình muốn đi xa hơn việc chuyển tải lời nói; tôi muốn góp phần nuôi dưỡng những con người có thể tự mình bước qua những ranh giới ngôn ngữ. Nghề dạy học đến với tôi như một lẽ tự nhiên, nhưng để đi cùng nghề lâu dài, chỉ kiến thức thôi chưa đủ. Cần lòng kiên nhẫn, cần niềm tin, cần một trái tim đủ ấm để không sốt ruột trước những bước tiến chậm, và đủ sáng để nhận ra những mầm xanh rất nhỏ đang lặng lẽ lớn lên từng ngày.

Tôi đã có cơ hội dạy nhiều đối tượng khác nhau: từ trẻ em còn e dè với bảng chữ cái đầu tiên, đến những người trưởng thành bận rộn giữa bộn bề công việc, thậm chí cả những người có học vị cao, vị trí cao trong xã hội nhưng vẫn khiêm nhường ngồi vào bàn học như một người bắt đầu lại. Điều khiến tôi xúc động nhất không phải là điểm số hay chứng chỉ, mà là những khoảnh khắc rất đỗi con người. Một đứa trẻ phát âm đúng một âm khó rồi tự vỗ tay vì sung sướng. Một bác lớn tuổi nhắn rằng hôm nay đã có thể tự tin trò chuyện với người nước ngoài. Một học viên từng sợ tiếng Anh nay bắt đầu yêu việc đọc, yêu nghe, và chấp nhận cả những lỗi sai của mình như một phần tất yếu của hành trình học tập.

Mỗi người học là một câu chuyện riêng. Có em học để tiến gần hơn đến giấc mơ du học. Có người học để mở rộng cơ hội nghề nghiệp. Có người học chỉ vì một mong muốn rất giản dị: không để mình bị bỏ lại phía sau trong một thế giới đang đổi thay từng ngày. Là người đứng lớp, tôi hiểu mình không chỉ dạy từ vựng, ngữ pháp hay phát âm. Điều tôi luôn mong gieo vào học trò còn là sự tự tin, tính kỷ luật và một thứ ánh sáng bên trong để các em, và cả những người trưởng thành, có thể bước đi vững vàng hơn trên con đường của mình.

Điều đẹp nhất ở nghề giáo, theo tôi, là được chứng kiến sự nở hoa. Có những bông hoa nở sớm. Có những bông hoa cần rất nhiều thời gian mới nở đúng mùa. Công việc của người dạy không phải là ép cánh hoa bung nở, mà là chăm đất, tưới cây, giữ nắng và giữ niềm tin. Tôi vẫn thường nói với học trò rằng học ngoại ngữ là một hành trình dài, nhưng không hề vô ích. Mỗi từ mới, mỗi lần dám cất lời, mỗi lỗi sai được sửa đều là một viên gạch nhỏ âm thầm xây nên cây cầu của ngày mai.

Có lẽ vì đời sống nghề nghiệp luôn gắn với ngôn ngữ nên trong những giờ rảnh hiếm hoi, tôi thường tìm về những điều rất yên. Tôi thích chăm cây, ngắm hoa, nhìn đàn cá lội tung tăng trong làn nước trong. Đôi khi chỉ một chồi non vừa nhú, một cánh hoa vừa hé, một vòng sóng lăn tăn trong bể cá cũng đủ làm lòng mình dịu lại. Tôi cũng thích làm thơ, viết văn, ghi chép những cảm xúc nhỏ bé nhưng chân thành của đời sống. Sau nhiều năm đi qua những cuộc gặp gỡ, những chuyến đi, những giờ dạy và những mùa suy ngẫm, tôi hiểu rằng con người cần có một nơi để trở về bên trong chính mình. Với tôi, trang giấy là một nơi như thế.

Nghề phiên dịch cho tôi khả năng lắng nghe thế giới. Nghề dạy học cho tôi cơ hội gieo những hạt mầm vào lòng người. Còn văn chương, cây lá, hoa cỏ giúp tôi giữ lại phần mềm mại của tâm hồn giữa một đời sống nhiều vội vã. Tôi biết ơn tất cả những điều ấy. Bởi nhờ chúng, tôi không chỉ sống với nghề, mà còn sống sâu hơn với con người và với chính mình.

Nếu phải đúc lại hành trình làm nghề của mình trong một câu ngắn gọn, tôi sẽ nói rằng: ngôn ngữ chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó làm con người xích lại gần nhau hơn. Một bản dịch tốt không chỉ giúp hai bên hiểu nhau. Một giờ học tốt không chỉ giúp người học tiến bộ. Điều quý nhất là qua từng lời nói, từng bài giảng, từng cuộc gặp gỡ, ta làm cho thế giới bớt xa lạ, bớt lạnh lẽo, và con người bớt lạc nhau hơn.

Có lẽ vì thế mà đến hôm nay, tôi vẫn yêu nghề này bằng một tình cảm bền bỉ và lòng biết ơn sâu sắc. Bởi mỗi ngày được đứng giữa ngôn ngữ và con người, tôi thấy mình vẫn đang âm thầm làm một công việc đẹp: nối những nhịp cầu. Giữa quốc gia với quốc gia. Giữa thầy với trò. Giữa người với người. Và đôi khi, còn là nối giữa hôm qua với hôm nay, giữa một ước mơ nhỏ bé thuở ban đầu với một hành trình đã đi qua biết bao mùa nắng gió mà trong lòng vẫn còn nguyên một niềm tin ấm áp.


(Quang Đặng - FKA, 18.3.2026)

 


HỒN QUÊ YÊN MỸ

 




HỒN QUÊ YÊN MỸ

Yên Mỹ mở cổng bình an,
Tên làng khắc đậm muôn vàn nghĩa sâu.
Chẳng riêng một tiếng gọi nhau,
Mà hồn xứ sở, mà màu quê hương.

Cổng xây từ những yêu thương,
Bao người góp sức, chung đường dựng xây.
Gạch kia đâu chỉ xếp dày,
Mà là lòng xếp bao ngày bền tâm.

Cổng làng đứng đó trầm ngâm,
Nghe trong thớ đất âm thầm dấu chân.
Tre xanh nghiêng bóng bên sân,
Gió đưa hồn cũ tiền nhân trở về.

Ai đi xa nhớ lối quê,
Thoáng tên Yên Mỹ đã nghe ấm lòng.
Một dòng chữ nối non sông,
Gìn giữ nề nếp gia phong, xóm làng.

Lời quê mộc mạc, dịu dàng:
"Dựng tên là giữ nếp làng bền lâu,
Giữ cho con cháu mai sau,
Biết nơi nguồn cội, thấm màu tổ tiên."

Một câu giản dị mà thiêng,
Bồi thêm cốt cách, giữ nguyên nếp nhà.
Tên làng đâu chỉ hôm qua,
Mà là lời hẹn ông cha gửi đời.

Chữ Yên - yên ấm lòng người,
Chữ Mỹ - đẹp đẽ, rạng ngời hương quê.
Cổng làng mở lối đi về,
Mở từ ký ức, nối về ngày sau.

Rồi mai phố xá thay màu,
Người đi kẻ lại qua mau chiều tà,
Xin còn một góc quê nhà,
Cho hồn xưa trú, cho ta nhớ mình.

Cổng không chỉ một dáng hình,
Mà nơi lưu giữ nghĩa tình vẹn nguyên.
Mặc cho dâu bể biến thiên,
Vẫn mong vạn sự bình yên, an lành.


(Quang Đặng – HN, 17.3.2026)



Thứ Hai, 16 tháng 3, 2026

MẠCH NGẦM THÁNG BA

 


Trong dòng chảy của đời sống hiện đại, khi tri thức, công nghệ và nhịp sống ngày càng gia tốc, con người đôi khi dễ lãng quên những giá trị âm thầm nhưng cốt lõi làm nên chiều sâu của văn minh. Đó là thi ca – nơi lưu giữ ký ức và tâm hồn nhân loại; là giáo dục – nơi hình thành nhân cách; và trên hết, là lòng nhân ái – nền tảng của mọi tiến bộ bền vững.

“Mạch ngầm tháng Ba” được hình thành từ sự gặp gỡ của những dòng chảy ấy trong một thời điểm giàu ý nghĩa: tháng Ba – mùa của khởi sinh, của Ngày Thơ Thế giới và cũng là dịp cộng đồng hướng về những con người mang Hội chứng Down bằng sự thấu hiểu và sẻ chia. Bài thơ không chỉ là sự ghi nhận vẻ đẹp của thi ca và giảng đường, mà còn là một cách nhìn nhân văn về giá trị của những khác biệt trong xã hội.

Thông qua hình tượng “mạch ngầm”, tác phẩm khắc họa một dòng chảy bền bỉ, lặng lẽ nhưng không ngừng vận động: từ trang thơ đến lớp học, từ tri thức đến con người, từ cá nhân đến cộng đồng và đất nước. Ở đó, chữ “Nhân” được đặt ở vị trí trung tâm – như một nguyên lý đạo đức xuyên suốt, vừa là điểm tựa, vừa là đích đến của mọi hành trình giáo dục.

Bài thơ vì thế không chỉ mang giá trị biểu đạt cảm xúc, mà còn góp phần khơi gợi nhận thức: rằng sự phát triển đích thực của xã hội không chỉ đo bằng tri thức hay thành tựu, mà còn được định hình bởi khả năng bao dung, tôn trọng và yêu thương những điều khác biệt.


MẠCH NGẦM THÁNG BA

Tháng Ba mở gió trên trang,
Chữ nhen nhóm lửa, dáng mang con người.
Mặc cho náo động cuộc đời,
Mạch thơ vẫn chảy lặng rơi sâu ngầm.

Bảng đen thức giữa sớm xuân,
Chở từng nét chữ lắng dần chiều sâu.
Ngoài kia phố cuộn sắc màu,
Trong đây lặng lẽ bắc cầu ngày mai.

Chẳng riêng giáo án trải dài,
Rèn cho dáng đứng, mở hoài tầm xa.
Tri thức thấm dưới làn da,
Nối miền dữ liệu, nở ra phận người.

Từ đây chảy tới những người,
Đến như hơi thở giữa đời mênh mang.
“Thừa” một sắc thể dịu dàng,
Mà trong ánh mắt vẫn tràn nắng trong.

Dẫu đi chậm giữa dòng đông,
Em lưu giữ một khoảng không ngọt lành.
Dạy ta giữa cõi mong manh,
Biết thương điều khác nên danh con người.

Giảng đường giữ lửa không nguôi,
Chữ “Nhân” neo lại giữa đời hôm nay.
Mạch kia không cạn theo ngày,
Chảy cùng đất nước, tràn đầy mai sau.


(Quang Đặng - HN, 17.3.2026)

 


NGỌN LỬA HUBT

 



NGỌN LỬA HUBT


HUBT thắp lửa lòng ta,
Tiếng Anh khai phóng, mở ra chân trời.
AI thúc bước không ngơi,
Tư duy số hóa xây đời vinh quang.

Dừng chân, thế giới sang trang,
Dấn thân, ta lại vững vàng vươn xa.
Học từ thế giới tinh hoa,
Để mai ta hát bài ca tự cường.


(Quang Đặng – HUBT, 17.3.2026)

 


PHÍA SAU MỘT NỤ CƯỜI

 


PHÍA SAU MỘT NỤ CƯỜI

(Nhân Ngày Hội chứng Down Thế giới – 21/3)


Khẽ khàng em đến thế gian,
Thừa một sắc thể, chứa chan tình người.
Ngại chi chậm bước đường đời,
Hồn nhiên ánh mắt, sáng ngời tương lai.

Có khi học chữ thật dài,
Một lời cất tiếng miệt mài tháng năm.
Ánh nhìn lặng lẽ âm thầm,
Mà dòng nhân ái lặng thầm chảy qua.

Xin đừng thương hại xót xa,
Đừng đem ánh mắt đặt qua phận người.
Chỉ mong một chỗ trong đời,
Được yêu, được học, được cười như ai.

Đường dài em bước chẳng sai,
Xin cho thế giới đợi hoài bước em.
Nếu em nói chậm bên thềm,
Xin cho nhân loại lặng im lắng lòng.

Giữa bao nhịp sống mênh mông,
Có người giữ lại tấm lòng nguyên sơ.
Các em tựa đóa hoa mơ,
Dạy ta biết sống ngây thơ mỗi ngày.

Hai mốt tháng Ba về đây,
Đất ôm mầm nhỏ, đong đầy yêu thương.
Dẫu cho khác biệt sắc hương,
Hoa chung một cội vẫn vương nắng trời.

Chẳng cần lộng lẫy giữa đời,
Nụ cười em thắp sáng ngời thế gian.
Nhờ em ta thấy bình an:
Đôi khi cái đẹp… muôn vàn khác ta.


(Quang Đặng - Giữa phố đông, 16.3.2026)


NGÀY HỘI CHỨNG DOWN THẾ GIỚI (21/3)

 


NGÀY HỘI CHỨNG DOWN THẾ GIỚI (21/3)

Khi sự khác biệt không cần lòng thương hại, mà cần một chỗ đứng trong thế giới này

Ngày 21 tháng 3 hằng năm, thế giới nhắc về hội chứng Down. Nhưng nếu chỉ dừng ở một ngày để nhớ, để đăng vài dòng khẩu hiệu, để nói vài câu cảm thông rồi lại quay đi, thì vẫn chưa đủ. Bởi điều những người mang hội chứng Down cần chưa bao giờ chỉ là sự chú ý thoáng qua. Điều họ cần là một thế giới biết nhìn họ như một con người trọn vẹn.

Có những em bé cất tiếng nói đầu tiên muộn hơn. Có những bàn tay mất nhiều tháng mới cài được một chiếc cúc áo. Có những bước chân chập chững phải đi qua nhiều nỗ lực hơn một đứa trẻ bình thường. Và cũng có những người mẹ, người cha đã âm thầm đi cùng con qua từng chặng nhỏ của đời sống, bằng một sức bền mà chỉ tình yêu mới có thể tạo nên.

Nhưng điều khiến người ta day dứt nhất không phải là sự chậm hơn ấy.

Điều đau nhất là ánh nhìn của xã hội.

Là khi một đứa trẻ bị nhìn như một nỗi buồn.

Là khi một con người bị gọi tên bằng khiếm khuyết, thay vì được gọi bằng chính nhân phẩm của mình.

Là khi các em bước vào cuộc đời này không chỉ với khó khăn bẩm sinh, mà còn phải đi qua thêm một cánh rừng của định kiến.

Hội chứng Down là một khác biệt di truyền.

Nó không phải là một bản án.

Càng không phải là lý do để bất kỳ ai bị xếp ra ngoài rìa của yêu thương, giáo dục, lao động và ước mơ.

Mỗi người mang hội chứng Down đều có một nhịp riêng để lớn lên, để hiểu, để cảm, để chạm vào thế giới. Có thể các em học chậm hơn, nói chậm hơn, thích nghi chậm hơn. Nhưng nhiều khi, chính các em lại dạy chúng ta nhanh hơn về những điều tưởng như ai cũng biết mà hóa ra rất ít người sống được: sự chân thành, lòng tin, niềm vui không giả tạo và khả năng yêu thương mà không toan tính.

Có những nụ cười đi qua đời ta rồi quên ngay. Nhưng cũng có những nụ cười khiến ta phải cúi đầu trước sự trong trẻo của một tâm hồn. Nhiều người mang hội chứng Down là như thế. Các em không làm thế giới ồn ào hơn. Các em làm thế giới mềm xuống.

Vì vậy, thông điệp của ngày này không nên chỉ là “Đừng thương hại – hãy tôn trọng và trao cơ hội cho người mang hội chứng Down.”

Lòng thương, nếu đứng quá cao, đôi khi vẫn tạo ra một khoảng cách.

Điều cần hơn là:

Ø   hãy tôn trọng họ;

Ø    Ø    hãy lắng nghe họ;

Ø   Ø   hãy để họ được học, được chơi, được làm việc, được hiện diện giữa cộng đồng như bất kỳ ai khác;

Ø    Ø      hãy ngừng nhìn sự khác biệt như một thiếu sót.

Một xã hội văn minh không được đo bằng những tòa nhà cao, những con đường rộng hay những lời nói đẹp. Một xã hội văn minh được đo bằng cách nó đối xử với những người cần được nâng đỡ nhất. Nếu một đứa trẻ mang hội chứng Down vẫn còn bị nhìn bằng ánh mắt ái ngại, bị loại khỏi lớp học, bị xem là gánh nặng, thì chúng ta chưa thể tự hào rằng mình đang sống trong một thế giới thực sự nhân ái.

Ngày 21 tháng 3 vì thế không chỉ dành cho những người mang hội chứng Down. Ngày này cũng dành cho tất cả chúng ta — để tự hỏi lòng mình:

ü                     Ta đã thực sự mở lòng trước sự khác biệt chưa?

ü                     Ta đã trao cơ hội công bằng chưa?

ü                     Ta đã nhìn thấy con người, hay mới chỉ nhìn thấy một hội chứng?

 

Với những ai đang mang hội chứng Down, xin hãy tin rằng các bạn không phải là phần lặng lẽ bị bỏ quên của thế giới này. Các bạn không đến đây để làm người khác thương hại. Các bạn đến đây để nhắc nhân loại rằng giá trị của một con người không nằm ở tốc độ, sự hoàn hảo hay chuẩn mực nào đó do số đông đặt ra. Giá trị của một con người nằm ở chỗ họ hiện hữu, họ yêu thương, họ cố gắng, và họ xứng đáng được thuộc về.

Còn với thế giới này, xin hãy nhớ một điều thật lâu:

Người mang hội chứng Down không cần một chỗ trong lòng thương hại của chúng ta.

Họ cần một chỗ đứng công bằng trong chính cuộc đời này.


(Quang Đặng – TH, 16.3.2026)

 


NGÀY THƠ THẾ GIỚI – 21/3

 


NGÀY THƠ THẾ GIỚI – 21/3

Tháng Ba nghiêng mực vẽ xuân,
Gió lay đầu bút xoay vần ý thơ.
Tự thời sơ khởi mịt mờ,
Chữ gieo thành nhịp bến bờ ước mong.

Kìa Iliad cuộn sóng lòng,
Này trang huyền thoại Á Đông thắm tình.
Hồn xưa kết dải anh linh,
Chảy qua muôn thuở đúc hình sử xanh.

Ngày thơ – khí tiết trong lành,
Thi ca gõ nhịp kết thành điệu chung.
Vượt qua vạn dặm nghìn trùng,
Hòa dòng tâm thức giữa vùng viễn phương.

Một câu níu giữ quê hương,
Một vần thắp sáng nẻo đường non sông.
Trang văn mở cửa tấm lòng,
Để bao dân tộc chung dòng tri âm.

Thơ là tiếng vọng âm thầm,
Chắt từ muôn thuở xa xăm kiếp người.
Vượt ngoài giấy mực giữa đời,
Hóa thành vệt sáng sao trời nở hoa.

Dẫu cho năm tháng phong ba,
Hồn thơ vẫn thắp tinh hoa soi đường.
Tháng Ba – ngày hội sắc hương,
Ngày Thơ Thế giới – yêu thương muôn đời.


(Quang Đặng – Góc nhỏ Hà Nội, 16.3.2026)




Chủ Nhật, 15 tháng 3, 2026

THÁNG BA – KHÚC CA NGÀY HỘI

 


THÁNG BA – KHÚC CA NGÀY HỘI

Tháng Ba mở cửa trời xuân,
Gió non mang cả bước chân muôn người.
Nắng hong cành biếc giữa trời,
Hoa bừng sắc thắm gọi mời xuân sang.

Mùng Ba nhắc chuyện rừng hoang,
Giữ loài thú quý giữa ngàn thiên nhiên.
Nhắc người gìn giữ bình yên,
Cho xanh muôn dặm đất liền đại dương.

Mùng Tám rạng rỡ yêu thương,
Hoa trao phụ nữ thơm hương quê nhà.
Bao năm bền bỉ vươn xa,
Dịu dàng tỏa sắc hương hoa xóm làng.

Mười bốn con số huy hoàng,
Ba chấm một bốn mở trang toán đời.
Pi tròn như nhịp đất trời,
Từ vòng tròn nhỏ rạng ngời thế gian.

Hai mươi hạnh phúc ngân vang,
Năm châu cùng thắp niềm an trong lòng.
Đời người giản dị mà mong,
Bình yên, no ấm, tình nồng muôn phương.

Hai sáu tuổi trẻ lên đường,
Thanh niên dựng nước tiếp nguồn cha ông.
Cờ bay rực lửa non sông,
Bước chân thế hệ nối dòng tương lai.

Tháng Ba hội tụ tháng ngày,
Bao niềm tin mới đong đầy nhân gian.
Những ngày kỷ niệm dịu dàng,
Như hoa nở giữa muôn vàn sắc xuân.


(Quang Đặng - HN, 16.3.2026)

 


XUÂN HÀ NỘI TRONG TÔI

 


XUÂN HÀ NỘI TRONG TÔI

Có những buổi sớm tháng Ba, Hà Nội thức dậy nhẹ như một trang sách vừa mở. Sương còn đọng trên tán bàng non, gió xuân lướt qua mặt hồ, khẽ lay làn nước Hồ Gươm thành những vòng sóng nhỏ. Thành phố dường như chưa vội vã. Nó thở chậm, sâu và trong, như vừa bước qua một giấc ngủ dài của mùa đông để chạm vào mùa của hy vọng.

Tôi vẫn thường nghĩ: mùa xuân ở Hà Nội không chỉ đến bằng hoa, mà đến bằng nhịp chuyển của lòng người.

Những hàng cây ven phố bắt đầu nhú lộc. Lộc non xanh đến mức nhìn vào tưởng như có ánh sáng. Trên những con đường cũ, cành bàng khẳng khiu hôm nào bỗng dịu dàng phủ lên mình lớp lá mới. Màu xanh ấy làm mềm đi vẻ khắc nghiệt của bê tông và khói xe, khiến phố phường bỗng trở nên hiền hòa hơn.

Có khi đứng lặng bên hồ, tôi nghe thấy mùa xuân đi qua rất khẽ:

Gió xuân chạm mặt hồ xanh,
Tháp Rùa đứng lặng giữa thành sương bay.
Một cành lộc biếc trên cây,
Gọi bao ký ức những ngày xa xôi.

Hà Nội là thành phố của ký ức. Nhưng mỗi độ xuân về, nơi này lại giống một cuốn sách đang viết tiếp. Tôi đã nhìn thấy thành phố đổi thay qua từng năm: những con đường rộng hơn, những cây cầu mới bắc qua sông Hồng, những tuyến tàu điện bắt đầu lăn bánh. Thành phố cổ kính ấy bước vào một nhịp sống mới – hiện đại hơn, nhanh hơn – nhưng đâu đó vẫn giữ lại cho mình những khoảng lặng rất riêng.

Những đổi thay ấy không chỉ của phố phường, mà còn là sự chuyển mình của cả đất nước.

Trong những lớp học, tôi nhìn thấy điều đó rõ ràng hơn cả. Trong ánh mắt của sinh viên hôm nay có một điều khác trước: sự tự tin của một thế hệ lớn lên cùng thời đại mở cửa. Các em nói về trí tuệ nhân tạo, về công nghệ sinh học, về những giấc mơ nghiên cứu và sáng tạo. Những khái niệm từng xa lạ nay trở thành câu chuyện quen thuộc trong giảng đường.

Nhìn các em, tôi chợt hiểu: mùa xuân không chỉ ở ngoài kia trong cành lá. Mùa xuân còn ở trong trí tuệ và khát vọng của một thế hệ trẻ.

Bảng đen còn vệt phấn mờ,
Bài giảng chợt hóa ước mơ trong lòng.
Mai này đất nước sang sông,
Cũng từ trang vở mở dòng tương lai.

Làm nghề dạy học lâu năm, tôi hiểu rằng sự đổi thay lớn nhất của một đất nước không nằm ở những tòa nhà cao tầng. Nó nằm ở cách con người nghĩ về ngày mai.

Hà Nội vào xuân thường gợi lên một niềm tin rất khẽ. Không biết từ đâu, chỉ thấy lòng người bỗng nhẹ đi giữa phố phường đông đúc.

Buổi sớm, con phố còn trong và dịu. Một cụ già chậm rãi đạp xe đi qua, dáng lưng hơi cong. Bánh xe quay đều, thong thả như nhịp sống quen của thành phố.

Ở góc vỉa hè, quán trà đá đã có vài sinh viên ngồi lại. Tiếng cười trẻ vang lên, lan ra trong nắng sớm, làm con phố bỗng ấm hơn.

Dưới tán cây vừa nhú lộc, một đứa trẻ chạy vòng quanh. Những bước chân nhỏ khẽ chạm lên mặt đất, nhẹ như đang chạm vào mùa xuân.

Mùa xuân dường như đang mở ra rất chậm  trên từng chồi lá non.


Thành phố lớn lên từng ngày, nhưng vẫn giữ được cái hồn giản dị ấy.

Sự thay đổi của đất nước đôi khi không ồn ào. Nó diễn ra âm thầm, giống như cách mùa xuân đến. Không ai nhìn thấy chính xác khoảnh khắc cây bắt đầu ra lá, nhưng rồi một buổi sáng, ta chợt nhận ra cả thành phố đã xanh.

Đất trời đổi sắc âm thầm,
Như câu chuyện nhỏ trăm năm đang thành.
Một mầm cây biếc trên cành,
Cũng mang theo cả màu xanh nước nhà.

Hà Nội trong tôi vì thế không chỉ là phố cổ hay hồ xưa. Hà Nội là biểu tượng của sự nối tiếp – giữa ký ức và tương lai, giữa truyền thống và đổi mới.

Mỗi mùa xuân trở lại, thành phố lại nhắc tôi nhớ một điều giản dị: đất nước này vẫn đang đi lên, từng bước vững vàng – như cành lộc non kia, mềm mại mà bền bỉ.

Và tôi biết, dù thời gian trôi qua bao nhiêu mùa nữa, Xuân Hà Nội trong tôi vẫn sẽ là mùa xuân của niềm tin và hy vọng.


(Quang Đặng – HUBT, sáng 16.3.2026)


THU THÌ THẦM BẾN CŨ

  THU THÌ THẦM BẾN CŨ Thu về nép giữa hiên xưa, Cúc vàng khe khẽ đón mùa heo may. Lao xao một thoáng lá bay, Mà nghe như cả những ngày ...