Thứ Năm, 11 tháng 6, 2026

KHÚC HÒA CA ANH A

 



KHÚC HÒA CA ANH A 

(Mến tặng những người đồng đội Khoa Tiếng Anh A và những trái tim đã cùng dệt nên “Liên khúc Tự hào Việt Nam”)

 

Nhà A sảnh rộng, nắng tràn ly,

Hầm hập trời trưa, quản ngại gì!

Tiếng đàn hòa sắc cùng phượng vĩ,

Tay nắm bàn tay, nhịp chân đi.

 

Váy thắm lung linh, dáng ngọc ngà,

Mồ hôi lấp lánh giọt châu sa.

Vệt nắng hong khô niềm mỏi mệt,

Chợt bừng lên giữa khúc giao hòa.


Thương người mẹ trẻ, bận con thơ,

Tiếng hát hòa vào mỗi giấc mơ.

Đêm muộn ngày sâu chung một nhịp,

Sơ khảo thôi đành, lỡ bến chờ!

 

Hành lang vắng gió vẫn đợi mong,

Tà áo tung bay rợp sắc hồng.

Ánh mắt trao nhau lời hẹn ước,

Gửi cả tình yêu, gửi tiếng lòng.

 

Thước phim gom lại dải dân ca,

Nước non ngàn dặm dệt gấm hoa.

Quan họ, câu hò, thương xứ Huế,

Thanh xuân ngời sáng, chẳng phai nhòa!

 

Bao đêm nhóm lửa, giữ canh thâu,

Đón ánh bình minh, rạng sắc màu.

Lá cờ đỏ thắm vươn trong gió,

Theo nhịp tự hào, nhạc vút cao!

 

Ánh mắt rạng ngời một niềm tin,

Khát vọng cuộn trào, nhịp cánh chim.

Chẳng đợi ghi danh ngôi vị nhất,

Sắc son nguyên vẹn ở trong tim!

 

Mỗi người một sắc, một tài hoa,

Giao hưởng chung dòng, vạn tiếng ca.

Nghĩa tình kết dệt muôn chương nhạc,

Tổ ấm Kinh Công một mái nhà!

 

Mai này sân khấu rợp ánh vàng,

Khúc nhạc reo vui, nhịp rộn ràng.

Tiếng hát hôm nay còn vang mãi,

Đất nước trọn niềm, khúc khải hoàn!

 

Nhà A vẫn đó, bóng cây xanh,

Vệt nắng nghiêng soi, bức họa thanh.

Gửi cả tuổi xuân thời thắm nhất,

Ba mươi năm ấy… trọn tình Anh!

 

(Quang Đặng – Tô Hiệu, 11.06.2026)


Thứ Tư, 10 tháng 6, 2026

Nắng Chữ Qua Sông



Nắng Chữ Qua Sông

 

Ba mươi năm một nhịp cầu,

Gói nghìn sợi nắng, nhuộm màu thời gian.

Phấn gieo trên những trang vàng,

Khoa Anh ươm những chân trời ước mơ.

 

Miệt mài dệt lụa vào thơ,

Nâng niu từng chữ, dựng bờ tương lai.

Biển trời công đức miệt mài,

Người đi mở lối, thắp hoài niềm tin.

 

Tầm nhìn vươn tới bình minh,

Kinh Công vững cốt, tạc hình thanh cao.

Chèo chung một bản khát khao,

Vượt dòng giông bão, trăng sao bạn đường.

 

Tóc sương vương bụi phấn trường,

Lửa tim hồng đượm, gửi thương vào đời.

Mai này vạn dặm phương trời,

Nghĩa tình nguồn cội, đời đời vẹn nguyên.

 

Ba mươi năm một con thuyền,

Chở đầy sông chữ, neo miền nhân văn.


(Quang Đặng - FKA, 10.6.2026)


Thứ Ba, 9 tháng 6, 2026

Khi Thời Gian Đứng Hát

 


Khi Thời Gian Đứng Hát

(Lấy cảm hứng từ bài thơ Người Ấy của thi sĩ Nguyễn Đức Toàn)


Chiều buông rót mật ven trời,
Nắng vàng như bản nhạc trôi cuối mùa.
Hoàng hôn níu lại lối xưa,
Hàng cây đứng đợi, đong đưa bóng người.

Kìa em bước giữa khung trời,
Câu ca xưa bỗng đánh rơi ngực chiều.
Gió thôi phiêu bạt vì xiêu,
Mây thôi lãng đãng vì yêu mất rồi.

Mắt em xanh một khoảng trời,
Soi nghiêng mặt nước, cuốn trôi bóng gầy.
Tóc buông mềm tựa sương bay,
Thoảng qua phố vắng, làm say cả đường.

Từ khi lạc giữa môi hường,
Tôi quên lối nhỏ, quên phương gió về.
Lòng trai vốn thích sơn khê,
Bỗng neo bến mắt, chẳng hề muốn đi.

Bốn mùa thay áo xuân thì,
Hạ buông cánh phượng, thu đi chưa về.
Qua bao dâu bể đam mê,
Tình tôi vẫn giữ vẹn bề nguyên sơ.

Có đêm ngồi giữa trăng mờ,
Lật từng trang nhớ, lật tờ thời gian.
Mới hay sau những hợp tan,
Dáng hình em vẫn dịu dàng trong tim.

Như trăng vắt vẻo bên thềm,
Như dòng tình khúc ngân êm điệp từ.
Bao năm bụi phủ phong thư,
Mở ra vẫn đượm hương xưa ngọt ngào.

Người đi qua một kiếp nào,
Mà như trú ngụ giữa bao kiếp người.
Trăm năm khép lại nụ cười,
Em - mùa đẹp nhất một thời tôi mang.

Say ngay từ độ gặp nàng,
Ngỡ như hoa nắng rải vàng thế gian.
Chạm nhau khoảnh khắc ấy sang,
Thời gian đứng hát giữa ngàn ánh sao.


(Quang Đặng - Chạng vạng, 09.06.2026)


BÓNG THẦY TRONG VỆT NẮNG HẠ

 




BÓNG THẦY TRONG VỆT NẮNG HẠ


                                       Tác giả: Đặng Đức Quang

                            Giảng viên Khoa Tiếng Anh A – HUBT


Chiều tháng Sáu năm 2026.

Cái nắng quái ác của vùng đất Hà Thành sau những ngày thịnh nộ chợt chùng chình buông lơi, hắt lên tầng bảy tòa nhà A một vệt rây vàng hanh hao, óng ả như thứ mật ong rừng nguyên chất. Vệt nắng chiều bướng bỉnh và lặng lẽ, cứ trườn dọc theo những bậc hành lang vốn đã nhẵn thín dấu chân của bao thế hệ đèn sách. Dưới sân trường, tiếng ve sầu dồn dập tấu lên khúc ca quen thuộc của mùa hạ, đan cài vào những thanh âm trong veo của đám sinh viên trẻ măng. Nhìn nhịp sống cuồn cuộn nhựa sống ấy, lòng tôi bất chợt nao nao một niềm hoài cảm, khẽ hướng về ngày hội lớn phía trước — nơi mái nhà chung mà chúng tôi vẫn trìu mến gọi là “Kinh Công” đang kiêu hãnh chuẩn bị bước vào cái ngưỡng tam thập nhi lập.

Ba mươi năm — một cái chớp mắt của lịch sử nhưng là cả một đời người gắn bó. Một chặng đường đủ dài để người ta ngoảnh đầu nhìn lại, để tri ân những viên gạch móng đầu tiên và tự hào về một tầm vóc sừng sững hôm nay. Nhưng suy cho cùng, điều đọng lại sâu sắc nhất, thứ cốt tủy không bị dòng chảy thời gian nghiền nát, chính là giá trị thiêng liêng độc bản của nơi này: Tình Người.

Tôi ngồi bên bục giảng, tựa vai vào bậu cửa sổ, mắt đăm đăm nhìn về khoảng sân nhuộm đầy sắc nắng muộn. Ký ức như một cuộn phim quay chậm, đưa tôi ngược dòng về những ngày đầu tiên chập chững bước vào trường cách đây gần hai thập kỷ. Ngày ấy, giảng đường làm gì đã có cái mát rượi của hệ thống điều hòa hiện đại. Lớp học ngày ấy oi nồng dưới mái tôn hầm hập. Nhưng chính trong cái khắc nghiệt của ngày nắng đổ, nhìn giọt mồ hôi lăn dài hòa cùng bụi phấn trắng bay bay thành một vệt nhòe trên bục giảng, nhìn những đôi mắt lấp lánh ánh lửa hiếu học của đám học trò, tôi biết mình đã thuộc về nơi này. Tại đây, giáo dục chưa bao giờ là việc nhồi nhét những tri thức khô khốc, mà là một thứ nghệ thuật thắp lửa, khai mở phần nhân văn ẩn sâu trong mỗi con người.

Trong vệt nắng chiều đang chậm rãi di dịch trên mặt sàn, hình bóng cố Giáo sư Trần Phương bỗng hiện về rõ mồn một, vừa trang nghiêm, lại dung dị. Thầy đã cưỡi hạc về với miền mây trắng xa xăm, nhưng ngọn lửa nhen nhóm từ những ngày đầu khai sơn phá thạch vẫn âm thầm cháy, sưởi ấm lòng bao thế hệ. Người ta vẫn bảo, một con người chỉ thực sự biến mất khi không còn ai nhớ đến họ. Triết lý ấy có lẽ chẳng đúng với nơi này. Thầy chưa từng rời đi. Thầy vẫn hiện hữu vẹn nguyên trong cái di sản thầm lặng mà vĩ đại mang tên Kinh Công. Cây đại thụ ấy không quản gian khó, lặng lẽ gieo hạt, bền bỉ giữ lửa bằng ý chí sắt đá. Với Thầy, giáo dục là sự kiến tạo cơ hội, là cuộc cách mạng đánh thức khát vọng đổi đời bằng chính cái nội lực tự thân của người học.

Tôi thuộc thế hệ giảng viên đi sau, cái duyên kề cận Thầy chẳng được là bao. Nhưng qua những câu chuyện kể ấm nồng nơi phòng nước giảng viên giữa giờ nghỉ giải lao, hình ảnh Người vẫn hiện lên sừng sững: giản dị đến tận cùng mà vĩ đại. Vẫn vẹn nguyên trong tôi những phong bao lì xì đỏ thắm Thầy gửi tận tay tới từng cán bộ mỗi dịp xuân sang. Món quà tuy nhỏ nhưng tấm lòng trao đi nặng trĩu sự trân trọng — một cử chỉ tinh tế làm nên cốt cách văn hóa không lẫn vào đâu được của mái trường Kinh Công. Tôi vẫn khắc cốt ghi tâm lời Thầy răn dạy trong một mùa khai giảng năm nào: Nếu không tự xác định hướng đi cho mình, các em sẽ đánh mất tương lai. Lời nhắn nhủ ấy, thiết nghĩ, chính là cái triết lý sống được đúc kết từ cuộc đời tự lực cánh sinh dựng trường của Thầy.

Cái gốc “Trí Nhân” và cái đạo lý “Nghĩa Nhân” mà Thầy dày công vun trồng, qua thời gian, đã kết tinh thành một thứ “Tình Người Kinh Công” vô cùng đặc biệt. Nó không phải thứ trang sức bằng khẩu hiệu treo trên vách tường, mà nó hiện hình trong từng bàn tay sẵn sàng chìa ra nâng đỡ nhau khi hoạn nạn. Thời gian có thể phủ rêu lên nhiều thứ, nhưng làm sao xóa nhòa nổi cái buổi chiều định mệnh khi hung tin về em Giáp Văn Quang ập đến. Đứa học trò tội nghiệp nằm hôn mê sâu, giành giật từng hơi thở mong manh giữa lằn ranh sinh tử. Đêm ấy, cả mái trường Kinh Công như lặng đi, một cái lặng im phăng phắc đầy lo âu. Nhưng rồi, từ những tiếng gọi âm thầm, lòng trắc ẩn của hàng ngàn con người bỗng bùng lên như một ngọn núi lửa. Thầy cô nhường cơm sẻ áo, sinh viên gom góp từng đồng phụ cấp ít ỏi… tất cả cùng hướng về phòng cấp cứu bằng những lời cầu nguyện khẩn thiết nhất. Và cái điều kỳ diệu đã đến, như một sự đền đáp cho sức mạnh của tình người: em tỉnh lại, bình phục và trở về giảng đường trong niềm hạnh phúc vỡ òa.

Bên cạnh cái bóng mát đại thụ của Thầy, Kinh Công còn là nơi hội tụ của những người đồng nghiệp đi qua đời tôi như một làn hương mùa hạ dịu mát, thoảng qua nhưng vương vấn cả đời. Dẫu đã khuất bóng, họ vẫn ở lại trong miền ký ức của tôi bằng sự tử tế và lòng nghiêm cẩn với nghề. Đó là cô Trương Thúy Ngọc — “cô Ngọc 2” của Khoa Anh A chúng tôi. Tôi nhớ những giờ dạy của cô dưới ô cửa sổ ngập tràn ánh nắng. Thứ tiếng Anh chuẩn mực, thanh tân phát ra từ một người phụ nữ Tràng An sao mà sang trọng, cuốn hút thế. Cô đứng đó, nhẹ nhàng bẻ gãy những cấu trúc ngữ pháp khô khốc, biến chúng thành thứ thanh âm có nhạc tính, có hồn cốt. Rồi cái cơn bạo bệnh ác nghiệt bất ngờ cướp cô đi trong sự bàng hoàng tột độ. Ngày tiễn đưa cô về với đất mẹ, phượng vĩ rực lên một màu đỏ nhức nhối cả khoảng sân trường, tựa như những giọt lệ bằng máu tiễn biệt của mùa hạ. Cô đã hóa thân vào mây trời tự do, nhưng cái lòng tận tụy ấy thì vẫn ở lại, ngân lên như một nốt nhạc ấm áp.

Ba mươi năm — một hành trình đủ dài để tự hào. Ngọn lửa Thầy thắp lên vẫn âm thầm cháy trong từng trang giáo án thao thức đêm khuya, trong từng lời giảng rút ruột tằm buổi sớm mai, và trong sự trưởng thành của hàng vạn cựu sinh viên đang tỏa đi muôn phương tung cánh. Từ những mái ngói rêu phong xưa cũ của ngày đầu gian khó, Kinh Công nay đã vươn mình mạnh mẽ, mở toang những cánh cửa hướng ra chân trời hội nhập.

Hôm nay, đứng giữa cái không gian lộng lẫy của khoảng trời chiều Hà Thành — khi tiếng ve đã ngân dài thành một vệt âm thanh, hòa cùng sắc hoa bằng lăng tím ngắt đan xen phượng vĩ đỏ đến rưng rưng, lòng tôi lại hướng về ngày hội lớn với nỗi nhớ Thầy khôn nguôi. Cánh cửa trường vẫn rộng mở đón gió bốn phương, những bước chân thanh xuân tiếp nối dài thêm trên bậc hành lang cũ. Và giữa cái dòng chảy tràn trề nhựa sống ấy, chúng tôi như vẫn cảm nhận được bóng Thầy đang đứng đâu đó dưới tán cây quen thuộc nơi sân trường. Người vẫn ở đó, lặng lẽ mỉm cười bao dung, đôi mắt kiên định dõi theo ngôi trường mà Người đã dành trọn vẹn cả cuộc đời, cả tâm huyết để vun đắp.

Kinh Công ơi, mái nhà của chữ Tâm và chữ Tài, nơi ngọn lửa Nghĩa Nhân sẽ mãi cháy sáng — không chỉ rực rỡ giữa những ngày nắng hạ, mà còn đủ sức sưởi ấm muôn thế hệ giảng viên và học trò đi qua mọi bão giông của cuộc đời!

Hà Nội, tháng 6 năm 2026

                      

 


TIẾNG LÒNG VEN SÔNG HỒNG

 



Có những cuộc chia tay diễn ra trong nước mắt. Nhưng cũng có những cuộc chia tay lặng lẽ đến mức người ta chẳng biết phải bắt đầu khóc từ đâu.

Bởi có những thứ không thể gói ghém lên xe để mang đi.

Làm sao mang theo được bóng cây trước ngõ đã đợi người qua bao mùa mưa nắng?

Làm sao mang theo được mái đình còn vương tiếng trống hội tuổi thơ, nấm mộ ông bà nằm yên dưới lớp cỏ quen thuộc, hay con đường đất nơi in dấu chân mẹ tảo tần?

Người ta có thể rời một ngôi nhà. Nhưng làm sao rời bỏ được một quê hương?

“Tiếng Lòng Ven Sông Hồng” được viết từ nỗi niềm ấy. Giữa dòng sông ngàn năm vẫn lặng lẽ chảy qua bao biến thiên lịch sử, có những kiếp người đang đứng trước một cuộc chia ly không dễ gọi tên. Họ rời đi, không chỉ mang theo nỗi nhớ về mái nhà hay mảnh vườn, mà là đang để lại phía sau một phần máu thịt, một phần linh hồn đã bén rễ vào lòng đất quê nhà.

Và rồi, trong khoảnh khắc ngoảnh đầu nhìn lại, tiếng gọi kia không còn là của riêng một người mẹ. Đó là tiếng của đất. Tiếng của làng. Tiếng của tổ tiên và của cội nguồn đang nghẹn ngào níu giữ: 

                        Đừng rời...”

 

TIẾNG LÒNG VEN SÔNG HỒNG


Bãi ngô, triền lúa ven sông,
Ngàn năm gió thổi mà lòng tái tê.
Chiều nay đứng ngóng chân đê,
Nghe trong sóng nước lời quê nghẹn ngào.

Già run chống gậy bước vào,
Ngoái nhìn mái cũ, lệ trào khóe mi.
Trẻ thơ nào biết biệt ly,
Vô tư níu áo mẹ đi ngậm ngùi.

Cỏ lau trắng cả chân trời,
Khói hương bảng lảng như người gọi nhau.
Một thời lửa đạn qua cầu,
Theo Đảng, theo Bác dãi dầu chiến chinh.

Giữ từng tấc đất quê mình,
Máu xương gửi lại cho bình minh lên.
Bao người nằm dưới cỏ mềm,
Chưa kịp hưởng trọn bình yên một ngày.

Mồ hôi thấm đất tháng ngày,
Hóa thành mạch sống xanh cây, xanh làng.
Pháp đi, Mỹ cũng tan hàng,
Tưởng đâu đất nước bình an muôn đời.

Nào ngờ giữa buổi yên vui,
Lại nghe tiếng gọi ngậm ngùi lìa quê.
Ai người thấu nỗi não nề,
Khi mồ mả tổ phủ bề cỏ hoang.

Khi đình cũ khuất cuối làng,
Chuông chùa lạc giữa ngổn ngang bụi đường.
Mai này con cháu tha phương,
Hỏi đâu gốc tích, biết đường tìm quê?

Sông Hồng vẫn chảy triền đê,
Bến xưa vẫn đợi bốn bề gió sương.
Chỉ thương những phận dân thường,
Còn mang quê quán trên đường dời đi.

Đêm nghe con nước thầm thì,
Tưởng như hồn đất gọi về phía sau.
Ngoảnh đầu chẳng thấy nhịp cầu,
Chỉ nghe tiếng mẹ nghẹn câu: “Đừng rời...”


(Viết trong nỗi niềm của những người con

đứng trước nguy cơ phải rời xa quê mẹ, tháng 6 năm 2026)


Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2026

Vũ Khúc Bốn Mùa

 



Mỗi mùa trong năm như một nốt nhạc trong bản giao hưởng vĩnh cửu của đất trời. Có những mùa để ngắm, và cũng có những mùa để lắng nghe tâm hồn mình ngân rung. 


Mời bạn cùng chạm vào những giai điệu của “Vũ Khúc Bốn Mùa”...

 

Vũ Khúc Bốn Mùa

 

Xuân tấu hoa reo bừng sắc bến,

Hạ gảy nắng mật nâng sóng sông.

Thu phối lá vàng theo hơi gió,

Đông điểm tuyết rơi nhuộm trắng bồng.

 

Vũ trụ vần xoay muôn cảnh sắc,

Chân trời rộng mở thỏa chờ mong.

Thế gian luân chuyển bao kỳ thú,

Vang mãi ngân dài khúc thong dong...


(Quang Đặng - YM, đầu tháng 6/2026)


HUBT - 30 NĂM MỘT KHÚC CA XUÂN

 



HUBT - 30 NĂM MỘT KHÚC CA XUÂN

 

Ba mươi năm, một chặng đường,

Gieo mầm tri thức, vấn vương nghĩa thầy.

Vĩnh Tuy, Từ Sơn đắp đầy,

Bao mùa quả ngọt, dựng xây cơ đồ.

 

Sông dài sóng cuộn nhấp nhô,

Chữ tâm mài sắt, nên thơ cuộc đời.

Thực hành, thực nghiệp rạng ngời,

Thực tâm kiến tạo, vang lời tri âm.

 

Giảng đường thắp lửa âm thầm,

Tận tình dẫn lối, ươm mầm tương lai.

Dẫu cho cách trở dặm dài,

Về đây mái ấm, vẹn hoài niềm thương.

 

Sinh viên khắp nẻo quê hương,

Nhớ về trường cũ, vấn vương tình nồng.

Mười lăm tháng sáu xanh trong,

Ngày về hội ngộ, ấm lòng thầy cô.

 

Tự hào dáng đứng Thủ đô,

Tự hào trí tuệ, điểm tô cuộc đời.

Ba mươi năm ấy đầy vơi,

Kinh Công sáng mãi, muôn đời vươn xa.

 

(Quang Đặng – HUBT, tháng 6/2026)


Bình Minh Ven Sông

 




Bình Minh Ven Sông

 

Sóng vỗ phù sa dịu tấm lòng,

Bình minh rạng rỡ nhuộm mênh mông.

Rau non mơn mởn vờn tia nắng,

Cỏ biếc thong dong nghé thả đồng.


Lũy trúc rì rào ca nhịp mới,

Đình xưa rêu phủ lặng soi trong.

Nghĩa tình đọng lại nghìn năm đợi,

Làng thức, hương đời tỏa bến sông.


(Quang Đặng – YM, 07.06.2026)


Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2026

Viết Tiếp Bản Trường Ca

 




Viết Tiếp Bản Trường Ca

 

Gửi lại thanh xuân vào nét mực,

Nhuộm màu sương trắng dệt vàng son.

Người xưa nằm xuống, hồn hóa cánh,

Bay cùng sông núi vạn năm còn.


Đất mẹ âm thầm nghe nhịp thở,

Thấm vào từng bước trẻ hôm nay.

Hòa bình đâu chỉ dừng khói súng,

Là lúc nhân sinh nắm bàn tay.


Buông bỏ sân si bên thềm cũ,

Dung thứ đơm hoa, vượng đất lành.

Chẳng cần vang động ngàn vạn dặm,

Chỉ nguyện ngời lên đóa bình minh.


Người trẻ vươn mình soi thế cuộc,

Mượn trí làm cầu, nối viễn phương.

Đem tâm gieo xuống đời thực tại,

Đường rộng thênh thang đượm tình thương.


Ba mươi năm ấy, tầm vóc mới,

Trang đời mở rộng vạn nỗi niềm.

Bụi phấn điểm tô màu tóc bạc,

Mái trường xưa ấy tỏa bình yên.


Viết tiếp duyên lành, không chói lóa,

Lặng lẽ hành thiện hóa tinh hoa.

Tâm trong, trí sáng, đời gieo ý,

Bất tử nghìn thu một trường ca.




(Quang Đặng - YM, 07.06.2026)


Hòa Nhịp Tình Thân

 



Hòa Nhịp Tình Thân

(Gửi nhà thơ Bích Phượng)

 

Nhận thơ cháu gửi cả trời xuân,

Mai nở hiên nhà rạng bước chân.

Ý đẹp nâng niu tình chú cháu,

Lời lành gắn kết nghĩa xa gần.

 

Sức bền tựa nước xuôi dòng biếc,

Lộc thắm như hoa nở ngát sân.

Gia đạo yên vui, đời thuận ý,

Trăm năm bền chặt một tình thân.


(Quang Đặng – YM, đêm muộn 06.06.2026)


KHÚC HÒA CA ANH A

  KHÚC HÒA CA ANH A   ( Mến tặng những người đồng đội Khoa Tiếng Anh A và những trái tim đã cùng dệt nên  “Liên khúc Tự hào Việt Nam” ) ...