Thứ Hai, 24 tháng 8, 2026

LẠ THÀNH THƯƠNG

 



LẠ THÀNH THƯƠNG

Cờ đỏ đầu thu rộn cổng trường,
Bạn về gặp gỡ từ muôn phương.
Trong veo ánh mắt ươm điều ước,
Rạng rỡ nụ cười ấm giảng đường.

Lời giảng thầy cô khơi ý mới,
Bạn bè cùng học, lạ thành thương.
Mai rồi mỗi bước đời chia ngả,
Ngoảnh lại một thời mãi vấn vương.

Quang Đặng

Hà Đông, 24.8.2026









LẪN VÀO TRONG THƠ

 



LẪN VÀO TRONG THƠ

Xin em đừng hỏi vì sao
Tên em anh để lẫn vào trong thơ.

Bởi em đã hóa bến bờ,
Cho anh neo đậu, đợi chờ bình yên.
Bao năm thuốc đắng triền miên,
Vai gầy vẫn giữ mái hiên, nếp nhà.

Cùng anh qua mấy phong ba,
Đêm sâu thức trắng, đường xa hóa gần.
Tháng năm lặng lẽ xoay vần,
Giọng em cất nhẹ, trong ngần trời xanh.

Hà Đông em vốn sinh thành,
Sư tử chính hiệu, mong anh quen dần.
Tầng ba giọng gắt xa gần,
Anh ngồi tầng một, mấy lần bút chao.

Đêm nằm mộng cũng lao xao,
Một phen tiếng vọng, chiêm bao giật mình.
Tỉnh rồi, thương cả tính tình,
Biết em đâu muốn trong mình nổi giông.

Cơn tan, gió lặng xuôi dòng,
Câu ca khe khẽ, nhẹ lòng đôi ta.
Lê Lai quán nhỏ ghé qua,
Bát mì khói ấm, mặn mà hôm nao.

Mai sau dẫu có ra sao,
Tên em vẫn cứ lẫn vào thơ anh.


Quang Đặng

Sau một cơn giông

Hà Đông, 24.8.2026


Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2026

THEO TIẾNG CHUÔNG TRONG MƯA

 




THEO TIẾNG CHUÔNG TRONG MƯA

Họa ý bài “Nhớ...” của Đặng Hiền – Vu Lan 2026

Chiều nay mưa rả rích ngoài hiên vắng,
Đọc thơ chị, lòng chợt dậy niềm thương.
Nắng năm ấy còn nghiêng trên bóng nước,
Mà chuông chùa như vọng từ quê hương.

Mẹ cha khuất, tình thương còn ở lại,
Trong từng ngày chị lặng lẽ đi qua.
Những nhọc nhằn lùi sâu vào năm tháng,
Để hôm nay càng thấm nghĩa mẹ cha.

Vu Lan đến, mưa giăng miền ký ức,
Gọi tuổi thơ về lại mái quê nhà.
Em chỉ biết gửi chị niềm thương ấy,
Theo tiếng chuông về bên mẹ cùng cha.

Quang Đặng

Yên Mỹ, 23.8.2026


Nhớ...

 

Tháng 7 về con lại nhớ mẹ cha

Lòng thổn thức những đêm dài quạnh vắng

Ánh mắt mẹ vẫn hiền từ lo lắng

Cha thâm trầm bên những nỗi âu lo...

 

Năm tháng rộng dài trăm nẻo quanh co

Cha đôn đáo, mẹ ngược xuôi vất vả

Cơm áo gạo tiền nắng mưa hối hả

Bàn tay người che chở trước bão giông...

 

Giờ mẹ cha nhẹ gót chốn hư không

Lòng thanh thản an vui ngàn thu nhé

Vu Lan về trên vai con thật khẽ

Đóa hồng thơm nâng bước chốn hồng trần...

 

Tiếng chuông chùa xa vẳng vang ngân...

 

Đặng Hiền

Vu Lan, 2026


Ảnh chụp vào một chiều đông, tại quê hương, 

nơi cha mẹ yên nghỉ, xã Yên Mỹ, Thanh Trì, Hà Nội.


Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2026

LỬA NGẦM

 



LỬA NGẦM

 

— Kính dâng Cha, mùa Vu Lan 2026 —


Cha vốn lặng thầm qua khó nhọc,
Đôi tay thay cả những lời yêu.
Tuổi thơ yên ấm trong che chở,
Đâu biết đôi vai gánh quá nhiều.

Mười lăm cây số dài dằng dặc,
Bàn chân cuốc bộ dặm đường xa.
Mưa dầm nắng dãi, chân không nghỉ,
Chỉ mong chiều kịp quay về nhà.

Bo bo, cơm bột — phần Cha nhận,
Gạo trắng, đậu phụ để phần con.
Đủ đầy, nếp ấy vẫn không đổi,
Tám người khôn lớn, đều vuông tròn.

Đêm nghèo hun hút bên ô cửa,
Đầu điếu thuốc hồng thức cùng Cha.
Khói mỏng quẩn quanh rồi tan hết,
Bao nỗi đắng cay chẳng nói ra.

Sau cơn tai biến, nửa người liệt,
Chẳng để bệnh tật tắt nụ cười.
Tự lăn, hơ ngải — cơn đau dịu,
Thấy đỡ, đem cách ấy giúp người.

Đến lúc chính con thành người bố,
Mới thấu đời Cha những gian lao.
Mỗi lần cúi xuống ôm con nhỏ,
Thương bờ vai đã gánh biết bao.

Con lớn rồi đi nhiều xứ lạ,
Mỗi độ về thăm, Cha thêm già.
Đến một chiều kia sân lặng ngắt,
Từ ấy hiên nhà vắng tiếng Cha.

Đêm khuya giấc ngủ còn dang dở,
Chợt nghe Cha khẽ gọi: “Con ơi!”
Choàng tỉnh, căn nhà im đến lạ,
Lửa ngầm còn ủ ấm một đời.

Yên Mỹ, 21.8.2026


Thứ Tư, 19 tháng 8, 2026

TRĂNG SỚM ĐOÀN VIÊN

 





TRĂNG SỚM ĐOÀN VIÊN

Hai chín tháng Tám đèn vàng,
Con cháu hội tụ, xốn xang mái nhà.
Ơn sâu nguồn cội ông bà,
Tình thân kết nối, đậm đà gần xa.

Nga – Vinh, Châu – Ngọc trao quà,
Đồng lòng góp sức, cả nhà chung tay.
Phượng tổng đạo diễn hăng say,
Cháu chắt múa hát, đêm này rộn vang.

Riệu – Sô cất bước rời làng,
Tây Ban Nha tới, đường sang nhớ nhà.
Cách ngăn, nghĩa vẫn mặn mà,
Trăng đoàn viên sáng toàn gia sum vầy.

 

Quang Đặng

Yên Mỹ, 24.8.2026

 


Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2026

MÙA VÀNG CÒN LẠI

 




MÙA VÀNG CÒN LẠI

— Kính dâng Mẹ, mùa Vu Lan 2026 —

Tháng Bảy mưa về ướt ngõ quê,
Hoa cau vừa rụng cạnh hàng tre.
Heo may chạm ngõ mùa thu sớm,
Một tiếng ru xưa bỗng vọng về.

Mẹ đã đi rồi, võng còn đây,
Nắng thu nghiêng xuống vạt rèm lay.
Gió qua khe cửa chiều im vắng,
Con ngỡ Mẹ về giữa bóng cây.

Một thuở đồng chiêm lấm gót chân,
Ngày theo mùa vụ, tối tảo tần.
Gánh rau qua những đêm sương lạnh,
Chắt chiu cơm áo suốt thanh xuân.

Mẹ bấm ngón chân xuống ruộng sâu,
Tay cấy mầm xanh gửi đất màu.
Tóc con đã điểm sương, mới hiểu:
Một đời Mẹ cúi để con cao.

Ngày thường lam lũ giữa xóm làng,
Đêm lên sân khấu, giọng ca vang.
Câu ca theo gió qua năm tháng,
Còn ấm trong con tựa nắng vàng.

Mẹ chẳng học nhiều chữ thánh hiền,
Mà lời Mẹ dạy giữ bình yên:
Giận ai, nên biết nhường một bước,
Đừng đem tình nghĩa đổi bạc tiền.

Tuổi xế lòng thanh, nhẹ tựa mây,
Sớm hôm chuỗi hạt ấm bàn tay.
Một câu niệm Phật chiều yên ắng,
Chuyện đời hơn thiệt cũng gió bay.

Mùa vàng qua rồi, hạt vẫn còn,
Nằm sâu trong đất đợi mầm non.
Mẹ về với đất, tình gieo lại,
Qua những mùa sau vẫn vẹn tròn.

Vu Lan chuông vọng cuối trời xa,
Con đứng lặng trong bóng chiều tà.
Chợt hiểu Mẹ đâu từng khuất hẳn –
Mẹ vẫn còn trong nếp nhà ta.

Yên Mỹ, 15.8.2026


TRĂNG QUA MIỀN ĐAU

 



TRĂNG QUA MIỀN ĐAU

Thuở ấy trăng non đậu cuối thôn,
Theo tà áo mỏng khuất hoàng hôn.
Trăng từ môi mắt vào thương nhớ,
Rồi lạnh trong tim một vết buồn.

Trăng thấm qua miền thân xác đỏ,
Hồn lìa đau đớn giữa cô đơn.
Đi tận nhân gian cùng máu lệ,
Trăng thành ánh sáng rọi linh hồn.

QĐ – 8.2026

 


Hai Mươi Tám Mùa Trăng – Ánh Sáng Bất Tận


Hai Mươi Tám Mùa Trăng –

Ánh Sáng Bất Tận

Tóm tắt:

Hàn Mặc Tử (1912–1940) chỉ sống 28 năm nhưng để lại thi ca rực rỡ vượt thời gian. Bài viết này xem xét chặng đường sinh thành và sáng tác của ông, từ tuổi thơ miền Trung sớm gặp Bạch Phong đến ba giai đoạn thơ chính: thơ Đường luật thời trai trẻ, thơ lãng mạn giai đoạn Gái Quê, và thơ siêu thực huyền ảo trong giai đoạn sau khi bệnh phong bộc phát. Trong mỗi chặng đường, ta thấy hiện hữu chủ đề về trăng, mùa xuân, tình yêu và nỗi đau thể xác, vươn tới ánh sáng của niềm tin. Tác phẩm tập trung lý giải vì sao từ “trong đáy tối bừng lên” kia (như chính Hàn từng viết) thơ ông không phải chỉ là tiếng kêu phó mặc cho định mệnh, mà là ánh sáng văn chương của đời ông. Các dẫn chứng minh họa bao gồm hình tượng “cây cau, mái tranh, vầng trăng, cỏ hoa” trong Gái quê và Đây thôn Vĩ Dạ, hình ảnh máu và trăng trong Đau thương, và niềm hy vọng Thiên Chúa giáo trong Xuân như ý.

 

Hàn Mặc Tử sinh ngày 22/9/1912 tại làng Lệ Mỹ (Quảng Bình) trong một gia đình Công giáo nghèo. Tên khai sinh của ông là Nguyễn Trọng Trí, mang tên thánh Phêrô Phanxicô khi chịu phép Rửa Tội. Sau khi cha mất (1926), gia đình đưa ông về Quy Nhơn. Từ 1928–1930 Hàn học ở trường Pellerin (Huế) và từng được Phan Bội Châu khen ba bài thơ Đường luật đầu tay “Thức khuya”, “Chùa hoang”, “Gái ở chùa”. Năm 1930, ông tốt nghiệp tiểu học và năm 1932 vào Sở Địa chính Quy Nhơn làm thư ký. Tại đây Hàn kết bạn với Quách Tấn và nhiều nhà thơ đương thời, góp phần tạo nên “Tứ hữu” Phong Trần – Hàn Mặc Tử – Yến Lan – Chế Lan Viên. Giai đoạn này Hàn dùng các bút danh Phong Trần, Lệ Thanh, gắn với tập Lệ Thanh (toàn các bài Đường luật) và mạch thơ truyền thống.

 

Tháng 6/1930 ông về Quy Nhơn học xong tiểu học; đến 1932 đi làm ở Sở Địa chính thì quen Hoàng Thị Kim Cúc – cô giáo thôn nữ mà ông gọi là Hoàng Hoa. Tình cảm của Hàn dành cho Kim Cúc là đơn phương: ông viết thơ, viết thư mời cưới, nhưng vị giáo sinh đáp lại bằng tình nghĩa văn chương chứ không trở thành đôi lứa. Tiếng thơ “Ở đây thôn Vĩ Dạ” mà thiên hạ lưu truyền thực là lời ngợi ca (phủ định) Hoàng Hoa: “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó? / Có chở trăng về kịp tối nay?”. Xét theo thời gian, giai đoạn 1932–1935 còn là lúc Hàn Mặc Tử viết thơ lãng mạn và nặng yếu tố Đường luật: tập Gái Quê (1936) ra đời cuối cùng của nhóm bài phong trần. Gái Quê được các nhà phê bình xếp vào những tập thơ lãng mạn hay nhất thời, cùng với Thơ thơ của Xuân Diệu và Mấy vần thơ của Thế Lữ. Trong Gái Quê và những bài xuân ca khác, Hàn viết về mái tranh, hàng cau, cỏ hoa mùa thắm… với chất giọng thiết tha của mùa xuân và tình quê hương. Những hình ảnh như “Nắng vàng hong mỏng mái tranh quê” hay “giữa khi hoa cỏ đang mùa thắm” trong thơ ông được giai đoạn này củng cố bởi kinh nghiệm thường nhật ở ngoại thành và cõi lòng si tình (ví dụ thơ về Gái quê, Xuân như ý).

 

Một bước ngoặt quyết định xảy đến khi bệnh phong bộc phát: từ khoảng 1935, Hàn Mặc Tử nhận ra các dấu hiệu của bệnh nan y nhưng lúc đầu coi nhẹ vì tưởng chỉ là ngứa phong bình thường. Đến 1936, sau khi tập Gái Quê xuất bản và sắp sang Sài Gòn làm chủ bút báo, ông mới ý thức bệnh tình không ổn. Từ 1938 trở đi, đau đớn thể xác hoành hành, Hàn giam mình trong hoang vắng của căn bệnh hủi và tình yêu tan vỡ. Giai đoạn này trở thành “cơn địa chấn” trong nghệ thuật ông: tập thơ Đau thương (hay Thơ Điên, 1938) đánh dấu một cú đổi phong cách “360 độ” của thi sĩ. Trong Đau thương, hình tượng “máu, hồn và trăng” được lặp lại đậm nét. Ví dụ, ở bài “Say trăng” Hàn viết:

“Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy

Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra”.

Hình ảnh trăng ở đây vừa tĩnh lặng vừa ám ảnh, pha lẫn tuyệt vọng “điên cuồng”. Tương tự, câu thơ từ bài “Hồn là ai?” lặp đi lặp lại tiếng gọi hồn và ám ảnh thập tử nhất sinh. Như nhà phê bình Quách Tấn nhận xét, bệnh tật khiến thi ca Hàn Mặc Tử thay đổi chủ đề hoàn toàn; nhưng không phải tự nó tạo nên chất thơ độc đáo. Ngược lại, nỗi đau đã được ông tôi luyện thành sức sáng tạo, đưa thi ca ông lên “đỉnh núi” cô đơn của Thơ Mới Việt Nam.

 

Đặc biệt, tuy thân xác ngày một kiệt quệ, Hàn Mặc Tử lại tìm về với ánh sáng bằng đức tin và hình ảnh tôn giáo. Ông luôn coi mình là con chiên ngoan đạo, thấm nhuần tư tưởng Thiên Chúa giáo. Trong tập Xuân như ý, trong Thượng thanh khí và nhiều bài thơ sau cùng, niềm hy vọng được cứu rỗi mang đậm dấu ấn tôn giáo. Nhiều câu thơ ngập tràn hình ảnh trăng trong giai đoạn này không chỉ có yếu tố kỳ ảo mà còn ẩn dụ khát vọng ấm no. Đáp lại nỗi cô đơn “màu lá đã chia xa” (Vĩ Dạ) của nhân thế, thi sĩ dâng tặng trang thơ “ướt giọt sương mai” và gọi mời người ra khỏi tối tăm. Như Đỗ Lai Thúy phân tích, niềm tin tôn giáo chính là động lực để Hàn dựng nên một thế giới thơ thanh khiết “như lúc khởi đầu của trời đất”, cứu rỗi phần hồn đau khổ của mình. Vì vậy, hình ảnh “sáng” trong thơ Hàn Mặc Tử ngày càng hiện rõ – từ bầu trời mùa xuân chín đỏ đến “ánh trăng còn thức cùng ta” giữa muôn vàn cơ cực.

 

Bảng dưới đây so sánh ba giai đoạn sáng tác chính của Hàn Mặc Tử về khung thời gian, tác phẩm tiêu biểu và hình ảnh chủ đạo:

Giai đoạn sáng tác

Thời gian

Tác phẩm tiêu biểu

Hình ảnh chủ đạo

Thơ Đường luật & khởi đầu (Phong Trần)

1928–1935

Lệ Thanh thi tập (toàn thơ Đường luật)

trăng thanh, cau xanh, tình quê

Thơ lãng mạn hiện đại

1936–1937

Gái Quê (1936), Xuân như ý

nắng xuân, mái tranh, tâm hồn tha thiết

Thơ siêu thực – Đau thương

1938–1940

Mùa xuân chínĐau thương (Thơ Điên, 1938)

máu, trăng, hồn, cõi tối

 

Đường thời gian dưới đây minh họa những sự kiện quan trọng trong đời ông, từ chào đời đến khi mất và những cột mốc sáng tác:



Với lối viết đầy nội lực và chất “thần bí, điên đảo”, Hàn Mặc Tử đã biến những bất hạnh thành “thơ từ đáy tối bừng lên sáng” (qua hình ảnh trăng, hoa, máu lệ)… – đúng như người bạn văn Chế Lan Viên từng dự cảm, “mai sau những cái tầm thường tan đi, còn lại một chút đáng kể là Hàn Mặc Tử”. Thơ Hàn Mặc Tử khơi gợi ở người đọc cảm giác vừa hân hoan trước sắc màu tươi sáng của thiên nhiên, vừa chạnh lòng trước khổ đau kiếp người. Cuộc đời ông tuy ngắn ngủi nhưng như “một vì sao tự cháy mình”; nhờ lòng yêu đời mãnh liệt và niềm tin kiên định, thi ca của ông vẫn luôn lan tỏa ánh sáng bất tận, nuôi dưỡng tâm hồn các thế hệ người yêu thơ sau này.

 

Tài liệu tham khảo: Các thông tin trong bài viết được trích dẫn từ những nguồn khảo cứu và lưu trữ văn học uy tín của Việt Nam, gồm các bài báo và nghiên cứu học thuật sau đây:

 

1.       Báo Pháp Luật Việt Nam, “Ám ảnh về nỗi cô đơn, sự cô độc trong thơ Hàn Mặc Tử”.

2.       Tạp chí Nghiên cứu Phật học, “Hàn Mặc Tử và thơ Phật giáo” (2018).

3.       Phanxipăng, Tia Sáng, “Sự thật về mối tình Hàn Mặc Tử – Hoàng Thị Kim Cúc” (22/10/2010).

4.       Trần Hoàng Hoàng, Báo Quân đội Nhân Dân, “‘Đỉnh núi’ cô đơn của Phong trào Thơ Mới” (23/12/2022).

5.       Trí Bửu, Thư viện Hoa Sen, “Hàn Mặc Tử & Thơ Phật giáo” (03/08/2018).

6.       Tổng Giáo phận Hà Nội, “100 năm ngày sinh Hàn Mặc Tử (Bài 4)”.

Quang Đặng – 14.8.2026


Thứ Năm, 13 tháng 8, 2026

Hai mươi tám mùa trăng

 



Có những cuộc đời được tính bằng năm tháng. Cũng có những cuộc đời rất ngắn, nhưng những gì họ để lại khiến thời gian dường như phải tính theo một cách khác.

Hàn Mặc Tử, tên thật Nguyễn Trọng Trí, sinh ngày 22 tháng 9 năm 1912 tại Lệ Mỹ, Đồng Hới, Quảng Bình và mất ngày 11 tháng 11 năm 1940 tại Quy Hòa, Quy Nhơn. Ông chỉ sống hai mươi tám năm — một đời người chưa kịp dài — nhưng chừng ấy thời gian đã đủ để tạo nên một cõi thơ gần như không thể trộn lẫn trong thi ca Việt Nam hiện đại.

Từ Gái quê, Đau thương (Thơ Điên), Xuân như ý đến những thi phẩm đã ở lại với nhiều thế hệ như “Mùa xuân chín”, “Đây thôn Vĩ Dạ”, Hàn Mặc Tử đưa vào thơ một thế giới vừa trong trẻo vừa huyền ảo, vừa trần thế vừa như muốn vượt khỏi trần gian. Ở đó có nắng trên mái tranh, hàng cau, vườn xanh, tình yêu và trăng; nhưng cũng có máu, lệ, cô đơn, những cơn đau của thân xác và một khát vọng hướng tới cái đẹp, cái thiêng liêng đến cháy bỏng.

Điều khiến tôi kính trọng Hàn Mặc Tử không chỉ là tài năng hay số phận bi thương. Sâu hơn cả là một nghịch lý đau lòng mà đẹp đẽ: càng bị bệnh tật đẩy xa khỏi đời sống bình thường, ông càng tha thiết với sự sống. Giữa cô quạnh, ông vẫn nhìn thấy một hàng cau xanh, một mái nhà trong nắng, một mùa xuân đang chín, một vầng trăng trên cao; vẫn yêu, vẫn mộng, vẫn hướng về con người và cái đẹp. Dường như càng đau, ông càng muốn ôm lấy nhân gian bằng thơ.

Và có lẽ điều kỳ lạ nhất ở Hàn Mặc Tử nằm chính ở đó: nỗi đau không làm thơ ông tối đi. Có những lúc, từ nơi tưởng như tận cùng của bóng tối, câu thơ lại bừng sáng dữ dội hơn. Thân xác ngày một bị giới hạn, nhưng tưởng tượng thì mở tới những tầng trời; đời sống ngày một thu hẹp, nhưng thế giới thi ca lại ngày một rộng lớn. Người đọc vì thế không chỉ gặp một Hàn Mặc Tử đau đớn, mà còn gặp một tâm hồn quyết liệt kiếm tìm sự sống ngay bên bờ của mất mát.

Ngày 11 tháng 11 năm 1940, cuộc đời Nguyễn Trọng Trí dừng lại ở tuổi hai mươi tám. Nhưng thơ Hàn Mặc Tử thì không dừng ở đó. Trăng vẫn sáng trong những trang thơ, Vĩ Dạ vẫn xanh, mùa xuân vẫn chín — và những câu thơ sinh ra từ một đời người ngắn ngủi vẫn tiếp tục đi qua nhiều thế hệ.

Tôi viết “Hai mươi tám mùa trăng” từ niềm kính trọng và xúc động ấy.

Hai mươi tám câu thơ cho hai mươi tám năm một đời người.
Hai mươi tám mùa rất ngắn giữa nhân gian — nhưng đủ để một thi sĩ để lại phía sau mình cả một bầu trời.

Bởi có những cuộc đời khép lại rất sớm, mà ánh sáng của họ thì không chịu tắt.

 

Hai mươi tám mùa trăng

Hai tám mùa xuân một kiếp người,
Mà gieo trăng xuống mấy tầng trời.
Từ miền cát trắng câu thơ dậy,
Một cõi riêng bừng giữa cuộc đời.

Thuở ấy thơ còn hương đất mới,
Nắng vàng hong mỏng mái tranh quê.
Giữa khi hoa cỏ đang mùa thắm,
Người đã nghe mùa khuất lối về.

Vĩ Dạ hàng cau xanh đến thế,
Mà sau màu biếc một trời xa.
Gió theo một ngả, mây đường khác,
Chỉ ánh trăng còn thức cùng ta.

Yêu đời đến cỏ cây thành bạn,
Đêm dài hơi thở mỏng canh thâu.
Thân càng khép lại trong cô quạnh,
Hồn lại mở ra muôn sắc màu.

Có những đêm trăng thành máu lệ,
Một tiếng gọi xa giữa lặng thinh.
Từ đáy đêm sâu thơ tìm sáng,
Như một vì sao tự cháy mình.

Quy Hòa biển vẫn xanh ngoài cửa,
Sóng cứ vô tư trắng chân ghềnh.
Hai tám mùa thôi, Người dừng bước,
Mà thơ còn thức giữa mông mênh.

Người khuất, trăng kia đâu chịu khuyết,
Vườn thơ còn ướt giọt sương mai.
Tôi nghiêng trang giấy nghe trong chữ:
Một trái tim đau vẫn sáng hoài.

QĐ – 15.8.2026

 


NGHE BIA ĐÁ

 



    Giữa bao xao động hôm nay, có lúc tôi chợt thấy mình lặng đi trước lịch sử. Quá khứ chưa bao giờ chỉ nằm yên trên những trang giấy đã khép lại. Đằng sau mỗi dòng chữ là biết bao phận người từng sống, từng yêu thương, từng chịu đựng; có người đã gửi cả tuổi xuân và máu xương vào lòng đất, để những mùa sau còn xanh.

Người sống có thể nhìn về quá khứ bằng những cách khác nhau — ngợi ca, phản biện hay bổ khuyết những điều còn khuất lấp. Nhưng dù từ điểm nhìn nào, điều cần giữ trước hết vẫn là sự chính trực và công bằng: không lấy vòng hoa che đi vết khuất, cũng không vì những được mất hôm nay mà xóa nhòa công lao của người đi trước.

Trang sử nằm trong tay người đang sống, nhưng người nằm xuống đã vĩnh viễn không thể trở về để tự mình phân giải. Có những điều đã thành câu chữ. Có những điều vẫn nằm im trong lòng đất, giữa cỏ cây, bên những tấm bia đã bạc màu qua bao mùa mưa nắng.

Vì thế, khi viết về quá khứ, có lẽ mỗi người cần biết lặng lại — để nghe những điều chưa được viết, nghe cả sự im lặng của đá, và nghe tiếng vọng từ lương tri của chính mình.

Từ nỗi niềm ấy, “Nghe Bia Đá” ra đời — không phải để phán xét, mà như một lời tự nhắc về sự thật, lòng biết ơn và trách nhiệm của người đang sống: với người đã khuất, với hôm nay và cả mai sau.

 

NGHE BIA ĐÁ

Chiều xuống hàng bia lạnh bóng người,
Cỏ non vừa khép một chân trời.
Tên ai còn khắc trong lòng đá,
Tuổi đã nằm yên dưới đất rồi.

Sông vẫn qua làng như thuở trước,
Phù sa bồi lở mấy bờ trôi.
Có người gửi tuổi vào con nước,
Cho một mùa sau lúa lại ngời.

Trang sử mở ra, hương giấy cũ,
Bàn tay chầm chậm lật thời gian.
Mực đen đôi lúc nghiêng theo bút,
Bia đá ngoài kia vẫn thẳng hàng.

Một chữ thêm vào, sông khác bóng,
Một dòng gạch xuống, núi chùng vai.
Người nằm đâu thể về phân giải,
Bia đá im bên cỏ mọc dài.

Đừng lấy vòng hoa che vết khuất,
Cũng đừng vì giận xóa công người.
Trăng in đáy nước, trăng còn đó,
Mây phủ chân trời, trời vẫn trời.

Bao lớp người qua thành bóng khuất,
Dấu chân còn in giữa đất này.
Danh vị rồi cũng phai trên giấy,
Nghĩa lớn còn xanh giữa cỏ cây.

Đêm xuống sách xưa còn để ngỏ,
Ngọn đèn nghiêng bóng xuống từng trang.
Có tiếng người chìm trong nét mực,
Có đời còn khuất mép thời gian.

Có bia đứng lặng qua mưa nắng,
Có tiếng không lời dưới đất sâu.
Người viết cúi đầu bên trang sử,
Nghe điều chưa viết vọng về sau.

Xin lật trang xưa bằng tay sạch,
Đừng đem quá khứ dựng thành gươm.
Máu người đã thấm sâu lòng đất,
Đừng để màu xanh nhuốm đỏ thêm.

Mai có trẻ thơ qua nghĩa địa,
Khẽ hỏi tên người dưới cỏ xanh.
Xin người cầm bút nghe bia đá,
Kẻo người nằm xuống chết hai lần.

Quang Đặng - 14.8.2026


LẠ THÀNH THƯƠNG

  LẠ THÀNH THƯƠNG Cờ đỏ đầu thu rộn cổng trường, Bạn về gặp gỡ từ muôn phương. Trong veo ánh mắt ươm điều ước, Rạng rỡ nụ cười ấm giảng...