Có những điều hiện diện quanh ta mỗi ngày, bình dị và thầm lặng đến mức ta ngỡ chúng là một lẽ đương nhiên sẽ còn mãi với thời gian.
Một triền sông đỏ nặng phù sa, một bãi bồi quanh năm xanh mướt, hay một cái tên làng, tên đất đã đi qua biết bao thế hệ mưu sinh... Chúng nằm đó, nhịp nhàng như hơi thở của đất mẹ, quen thuộc đến mức chẳng mấy ai mảy may tự hỏi vì sao mình lại gắn bó máu thịt đến nhường này.
Cho đến một ngày, đứng giữa dòng xoáy của những đổi thay và những công trình san lấp, con người bỗng giật mình nhận ra: có những giá trị tưởng như vĩnh hằng, nhưng chỉ cần một phút vô tình đánh mất, sẽ chẳng bao giờ tìm lại được nữa. Và cũng từ trong khoảng lặng hoang mang ấy, một câu hỏi âm thầm nhưng nhức nhối được đánh thức.
Điều gì thật sự làm nên linh hồn của một vùng đất? Khi những bờ xôi ruộng mật hóa thành bê tông thô ráp, ta đang tiến về phía văn minh hay đang lùi sâu vào khoảng trống của sự lãng quên?
Bài thơ dưới đây được viết từ chính câu hỏi đầy trăn trở ấy – một tiếng lòng gọi tìm căn nguyên mạch ngầm của xứ sở:
Có Đất Mà Vắng Linh Hồn
Hồng Hà đỏ một dòng thiêng,
Mang hồn non nước nối miền xa xôi.
Ngàn năm khí tụ đất trời,
Long Đỗ kết mạch rạng ngời Thăng Long.
Rồng đâu từ cõi hư không,
Mà từ lòng đất hóa hình bay lên.
Bao phen lửa khói đảo điên,
Kinh thành vẫn giữ căn nguyên mạch ngầm.
Mà là huyết mạch uốn vòng nước non.
Bãi bồi giữ nhịp sinh tồn,
Khúc quanh tụ khí, cồn son kết hình.
Người nhìn chỉ thấy đất mình,
Người sâu mắt thấy hồn linh núi đồi.
Mất nhà dựng lại được thôi,
Mất mùa còn đợi đất trời hồi sinh.
Điều đau nhất cõi nhân sinh,
Là quên nguồn cội đã thành máu xương.
Có Rồng mà mất linh quang,
Có đất mà vắng hồn ngàn năm xưa.
Mai này phố xá như mơ,
Xin đừng để gốc bơ vơ cuối trời.
Giữ quê chẳng chỉ giữ nơi,
Mà gìn một cõi hồn người trong ta.
(Quang Đặng – YM, 05.06.2026)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét