Kính
thưa Thầy Nguyễn Quảng,
Đọc
“Về cố hương”, điều đọng lại trong em không chỉ là nỗi nhớ quê hương da
diết, mà còn là hình ảnh một người con sau bao năm xa cách được trở về với nơi
mình hằng thương nhớ.
Bài
thơ được viết vào mùa xuân năm 1976 – mùa xuân đầu tiên của đất nước thống
nhất. Có lẽ vì thế mà trong từng câu chữ, em cảm nhận được niềm vui đoàn tụ hòa
quyện cùng những dư âm chưa nguôi của một thời khói lửa. Đó không phải niềm vui
ồn ào của ngày chiến thắng, mà là niềm vui lắng sâu sau những tháng năm chia
xa, mất mát và chờ đợi.
Điều khiến em xúc động nhất chính là hai chữ “quê Mẹ” ngay trong câu thơ mở đầu:
“Đường về quê Mẹ hôm nay
Phải đâu lạ cảnh mà say hỡi người.”
Quê
hương trong thơ Thầy không hiện lên bằng những hình ảnh tráng lệ hay những lời
ngợi ca lớn lao. Chỉ một tiếng cười, một tà áo, một sắc trời quen thuộc cũng đủ
làm lòng người xao động. Em nghĩ, chỉ những ai từng đi rất xa, từng mang trong
tim nỗi nhớ quê hương suốt những năm dài chiến tranh, mới có thể viết nên cái
“say” giản dị mà sâu thẳm đến thế. Đó là cái say của người con được trở về với
cội nguồn yêu dấu sau những tháng năm biền biệt xa quê.
Đọc
những câu thơ về bước chân phiêu du nơi “góc bể chân trời”, về cánh nhạn giữa
tầng không, hay những đêm thao thức nhớ quê, em cảm nhận được một tình yêu cố
hương bền bỉ như mạch nước ngầm chảy suốt cuộc đời người lính. Nhưng điều làm
em rung động hơn cả là ở bài thơ này, không chỉ có nỗi nhớ của người đi xa dành
cho quê hương, mà còn có sự ngóng đợi của quê hương dành cho người trở về. Hình
ảnh: “Cố hương vẫn giấc chập chờn ngóng trông” đã nhân hóa quê hương như một
người mẹ lặng lẽ đứng đợi con sau những năm dài cách biệt. Chính điều đó khiến
nỗi nhớ trong bài thơ trở nên sâu hơn, ấm hơn và giàu tình người hơn.
Em
đặc biệt yêu mến giọng thơ của Thầy. Ngôn ngữ mộc mạc, đằm thắm, giàu chất cổ
điển nhưng vẫn rất gần gũi. Mỗi câu thơ như một lời tâm sự chân thành của người
từng trải – một người đã đi qua chiến tranh mà vẫn giữ nguyên sự rung động tinh
tế trước những điều bình dị của cuộc sống. Bởi đã từng đối mặt với mất mát, nên
càng biết nâng niu những gì bình yên. Bởi đã từng đi xa, nên càng thấu hiểu giá
trị của ngày trở về.
Khép
lại bài thơ, trong em vẫn còn vang vọng hình ảnh người lính năm nào đứng trên
con đường trở về quê mẹ sau ngày toàn thắng. Sau lưng là những năm tháng khói
lửa, trước mặt là mái nhà, dòng sông, lối cũ thân quen. Khoảnh khắc ấy khiến em
hiểu rằng có những giá trị chỉ khi đi xa người ta mới nhận ra hết sự thiêng
liêng của nó. Quê hương trong bài thơ không chỉ là nơi để trở về, mà còn là nơi
để nhớ, để thương và để gìn giữ suốt một đời.
Em
xin cảm ơn Thầy đã chia sẻ một thi phẩm giàu tình quê, tình người và tình đất
nước. “Về cố hương” không chỉ là câu chuyện của một người trở về sau
chiến tranh, mà còn là lời nhắc nhở nhẹ nhàng để những thế hệ đi sau biết yêu
hơn nơi mình sinh ra, biết trân trọng hơn những ngày bình yên mà cha anh đã
đánh đổi bằng biết bao hy sinh mới có được.
Em
tin rằng những câu thơ ấy sẽ còn ở lại rất lâu trong lòng người đọc, đặc biệt
là những người con luôn mang trong tim một miền quê để nhớ, để thương và để
hướng về.
Trân
trọng,
Đặng
Đức Quang
Khoa
Anh A – HUBT
VỀ CỐ HƯƠNG
(Về
quê hương sau ngày toàn thắng 30/4/1975)
Đường về quê Mẹ hôm
nay,
Phải đâu lạ cảnh mà say hỡi người.
Đơn sơ chỉ một tiếng cười,
Một tà áo gợi sắc trời thương thương.
Khi xưa nhớ buổi
lên đường,
Lối mòn dốc cũ mấy phương chập chờn.
Sông hồ riêng phận cô đơn,
Còn e chớp bể, mưa nguồn quê xa.
Dẫu chân chưa trọn
sơn hà,
Thân thương đâu sánh quê ta tháng ngày.
Thói đời khóc mướn, thương vay,
Ngẫm trông thế sự, buồn thay phận người.
Phiêu du góc bể
chân trời,
Trong vui bỗng chạnh xót người xa xăm.
Chiến trường khói lửa bao năm,
Hẳn trong bom đạn còn đăm đắm về.
Ngậm ngùi dõi bước sơn khê,
Trông hoài cánh nhạn mà tê tái lòng.
Dẫu rằng trăm nhớ ngàn mong,
Xin đừng ngỏ lệ lưng tròng người ơi.
Có đi cuối đất cùng
trời,
Có nghe da diết rã rời từng cơn.
Dù đi cùng cốc thâm sơn,
Cố hương vẫn giấc chập chờn ngóng trông.
Mưa tan rồi nắng
ửng hồng,
Xuân sang bởi có mùa đông úa tàn.
Ngày về kể nỗi quan san,
Tương phùng hẳn lệ đẫm tràn trong mi.
NQ
Hà Nội, Xuân 1976
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét