Thứ Năm, 4 tháng 6, 2026

Vũ Khúc Phấn Trắng

 



Có những dấu chân không in trên đá, nhưng vẫn bền lâu hơn năm tháng. Có những con người không chọn ánh hào quang cho riêng mình, mà lặng lẽ thắp sáng hành trình của người khác.

 

Ba mươi năm đứng trên bục giảng là ba mươi năm trao đi tri thức, niềm tin và cả những mùa xuân đẹp nhất của đời người. Thời gian có thể phủ màu lên mái tóc, nhưng không thể làm phai nhòa những giá trị đã được gieo vào tâm hồn biết bao thế hệ học trò.

 

Và rồi, khi nhìn lại chặng đường ấy, ta chợt nhận ra: điều còn ở lại không nằm trong những bài giảng đã khép lại, mà nằm trong những ước mơ đã được đánh thức, những cuộc đời đã được nâng cánh bay xa.

 

“Vũ Khúc Phấn Trắng” là lời tri ân dành cho hành trình lặng lẽ mà cao quý ấy — nơi mỗi hạt phấn nhỏ bé đều mang trong mình ánh sáng của sự tận hiến.



Vũ Khúc Phấn Trắng

 

Ba thập niên ngập ánh thềm hoa,

Bụi phấn rây mềm dải Ngân Hà.

Nét chữ khơi nguồn dòng vạn lý,

Màn nhung vừa mở, ánh dương qua.


Phấn rụng vào đêm, tóc nhuốm sương,

Bàn tay mở lối những con đường.

Trang đời trải rộng miền tri thức,

Sóng cuộn ngàn khơi, vạn dặm trường.


Đèn thắp lên rồi, nhạc chuyển xoay,

Tiếng lòng lắng lại giữa tầng mây.

Bao đêm thao thức chưng dòng mật,

Nuôi đóa hoa đời, nối cánh tay.


Hợp xướng vang xa, trời rộng mở,

Thanh âm vọng thấu cõi vô biên.

Nhạc tàn, màn khép, hào quang đọng,

Hồn người kết ngọc, ngự tòa sen.


Bục cũ nằm im, nhạc nén vần,

Lặng thầm ủ lửa dưới tro than.

Hạt phấn hóa thân vòng vũ điệu,

Chở nắng vàng gieo khắp giang san.


Ba mươi năm một cung đường ngọc,

Vũ khúc còn vang, vạn điệu hòa.

Ươm hạt nắng tâm, bồi trí sáng,

Kinh Công rực rỡ những mùa hoa.




(Quang Đặng – Yên Mỹ đêm mưa, 04.06.2026)



Phấn Trắng Hóa Cánh Bay

 



Phấn Trắng Hóa Cánh Bay

Bụi phấn vương dài trên bục giảng,

Giáo án khép lại, nắng vừa sang.

Tâm hồn mở lối miền sân khấu,

Gác lại ưu tư, bước thênh thang.


Tay miệt mài gieo từng hạt chữ,

Lặng vun mầm biếc thuở xuân xanh.

Ba mươi năm - triệu bàn tay góp sức,

Chung một dòng sông, chung mộng lành.


Chẳng quen đứng giữa quầng rực rỡ,

Chỉ quen bụi phấn bạc màu sương.

Chắt nắng qua từng đêm thao thức,

Dâng mái trường trọn vẹn yêu thương.


Màn nhung buông, dư ba còn đọng,

Vệt sáng vừa khép, diễn say mê.

Phấn trắng nhẹ rơi, không tan mất,

Hóa cánh bay xa, trọn lời thề.


Có những người âm thầm như đất,

Nuôi mùa vàng chẳng đợi gọi tên.

Ba mươi năm – một đời tận hiến,

Để khát vọng ta cùng vươn lên.



(Quang Đặng - HUBT, 04.06.2026)



Thứ Tư, 3 tháng 6, 2026

TỰ TẠI

 




Giữa phố thị khoác lớp lụa ánh sáng, tháp cao vươn như một khát vọng chưa kịp gọi tên, dòng sông vẫn lặng lẽ chảy qua bao mùa đổi thay.

Có những khoảnh khắc, ta dừng lại — không để rời khỏi dòng chảy, mà để lắng nghe điều đang âm thầm chảy qua chính mình.

Khi ấy, trăng không chỉ là ánh sáng trên cao, mà là một khoảng soi chiếu. Đủ tĩnh để nhìn rõ những náo động của đời sống, và đủ sâu để nhận ra điều còn ở lại.

“Tự tại” có lẽ không nằm ở việc đi xa đến đâu, mà ở khả năng giữ được một khoảng nguyên sơ giữa những đổi thay không ngừng của thế gian.

Bài thơ là một lát cắt của khoảnh khắc ấy.



TỰ TẠI


Phố khoác xiêm y, tháp vút cao,

Sông oằn mình gánh sóng lao xao.

Ta đứng giữa dòng đời lệch nhịp,

Trăng soi thấu tỏ: chẳng vì sao.

 

Chẳng hẹn ai qua, chẳng giữ lòng,

Trăng buông bến cũ, sáng mênh mông.

Phù sa gửi lại đời phố thị,

Ta giữ trong mình... một nhánh sông.


(Quang Đặng - YM, đêm 03.06.2026)



Thứ Ba, 2 tháng 6, 2026

Sen 9A

 



Mừng Sinh Nhật Sen 9A - Yên Mỹ


Tháng Sáu sen về, sinh nhật Sen,

Hồ thơm ngào ngạt, nắng lung linh.

Chúc bạn mãi trẻ, luôn tươi tắn,

Hạnh phúc đong đầy, thắm sắc xinh.


(Quang Đặng - FKA, 03.06.2026)


TỪ BÃI NGÔ YÊN MỸ

 

Tình cờ đọc được những câu thơ của Khan trong Câu lạc bộ Văn Thơ HUBT:

“Trăng lặng lẽ giữa bầu trời thành phố,

Soi bóng Hồ Tây gợn sóng êm.

Hà Nội đổi thay từng con phố,

Vầng trăng xưa vẫn vẹn nguyên mềm...”

 

Lời thơ ấy khiến tôi lặng đi.

Giữa những đổi thay từng ngày của Hà Nội, vẫn có những điều âm thầm ở lại: một vầng trăng trên Hồ Tây, một dòng sông đỏ nặng phù sa, một miền quê lặng lẽ neo trong ký ức.

Từ ánh trăng ấy, một miền bãi ngô Yên Mỹ bên dòng sông Hồng quê mẹ bỗng hiện về trong tôi. Dòng sông vẫn miệt mài chảy về phía biển, như Hà Nội vẫn từng ngày mở rộng những chân trời mới. Nhưng trong màu nước đỏ nặng phù sa kia, dường như vẫn lặng thầm một nỗi nhớ nguồn. Có lẽ vì thế mà dòng sông càng xa nguồn càng nặng lòng phù sa.

“Từ Bãi Ngô Yên Mỹ” được viết từ nỗi nhớ bình dị ấy.

Xin mời Quý vị cùng theo dòng thơ trở về miền đất bãi ven sông, nơi phù sa vẫn âm thầm bồi đắp và hương bãi ngô vẫn còn thổn thức trong lòng người.


TỪ BÃI NGÔ YÊN MỸ

Từ bãi ngô quê mẹ Yên Mỹ,
Tôi thả hồn theo sóng đẫm phù sa.
Nước ngàn năm vẫn miệt mài chảy xiết,
Gói tình quê theo gió tới muôn xa.

Gió Hồ Tây gọi về bến cũ,
Trăng treo nghiêng thao thức vơi đầy.
Mái phố bừng trong làn nắng sớm,
Nhịp cầu xa níu lấy chân mây.

Tòa tháp mới gọi bình minh thức giấc,
Mầm xanh lên giữa nhịp dựng xây.
Đường cuộn chảy, dòng người hối hả,
Gửi khát khao nối tiếp những bàn tay...

Tôi chợt hiểu dòng sông quê mẹ,
Đâu chỉ là dòng nước chảy qua.
Bao lặng lẽ hóa phù sa bồi đắp,
Ôm trọn xóm làng, chẳng đợi ngợi ca.

Hà Nội đó đang ngày đêm thay áo,
Vẫn vẹn nguyên như thuở ban sơ.
Như sông Hồng vươn mình ra biển lớn,
Chẳng quên lòng neo giữ bến bờ.

Trăng vẫn sáng trên đầu thành phố,
Sông vẫn xuôi về phía biển xa.
Dẫu Hà Nội lớn lên cùng gió,
Hương bãi ngô còn thổn thức trái tim người!

(Quang Đặng – FKA, 03.06.2026)


GIAI ĐIỆU BAN MAI

 




GIAI ĐIỆU BAN MAI

 

Giấy hồng khẽ thở giữa ban mai,

Bonsai uốn nhịp nét thiên thai.

Hoa nghiêng theo gió thành âm khẽ,

Đôn gốm lặng nghe sắc thanh dài.

 

(Quang Đặng - YM, 02.06.2026)


KHI CỐ HƯƠNG CÒN CHẬP CHỜN NGÓNG ĐỢI

 


Kính thưa Thầy Nguyễn Quảng,

Đọc “Về cố hương”, điều đọng lại trong em không chỉ là nỗi nhớ quê hương da diết, mà còn là hình ảnh một người con sau bao năm xa cách được trở về với nơi mình hằng thương nhớ.

Bài thơ được viết vào mùa xuân năm 1976 – mùa xuân đầu tiên của đất nước thống nhất. Có lẽ vì thế mà trong từng câu chữ, em cảm nhận được niềm vui đoàn tụ hòa quyện cùng những dư âm chưa nguôi của một thời khói lửa. Đó không phải niềm vui ồn ào của ngày chiến thắng, mà là niềm vui lắng sâu sau những tháng năm chia xa, mất mát và chờ đợi.

Điều khiến em xúc động nhất chính là hai chữ “quê Mẹ” ngay trong câu thơ mở đầu:

“Đường về quê Mẹ hôm nay

Phải đâu lạ cảnh mà say hỡi người.”

Quê hương trong thơ Thầy không hiện lên bằng những hình ảnh tráng lệ hay những lời ngợi ca lớn lao. Chỉ một tiếng cười, một tà áo, một sắc trời quen thuộc cũng đủ làm lòng người xao động. Em nghĩ, chỉ những ai từng đi rất xa, từng mang trong tim nỗi nhớ quê hương suốt những năm dài chiến tranh, mới có thể viết nên cái “say” giản dị mà sâu thẳm đến thế. Đó là cái say của người con được trở về với cội nguồn yêu dấu sau những tháng năm biền biệt xa quê.

Đọc những câu thơ về bước chân phiêu du nơi “góc bể chân trời”, về cánh nhạn giữa tầng không, hay những đêm thao thức nhớ quê, em cảm nhận được một tình yêu cố hương bền bỉ như mạch nước ngầm chảy suốt cuộc đời người lính. Nhưng điều làm em rung động hơn cả là ở bài thơ này, không chỉ có nỗi nhớ của người đi xa dành cho quê hương, mà còn có sự ngóng đợi của quê hương dành cho người trở về. Hình ảnh: “Cố hương vẫn giấc chập chờn ngóng trông” đã nhân hóa quê hương như một người mẹ lặng lẽ đứng đợi con sau những năm dài cách biệt. Chính điều đó khiến nỗi nhớ trong bài thơ trở nên sâu hơn, ấm hơn và giàu tình người hơn.

Em đặc biệt yêu mến giọng thơ của Thầy. Ngôn ngữ mộc mạc, đằm thắm, giàu chất cổ điển nhưng vẫn rất gần gũi. Mỗi câu thơ như một lời tâm sự chân thành của người từng trải – một người đã đi qua chiến tranh mà vẫn giữ nguyên sự rung động tinh tế trước những điều bình dị của cuộc sống. Bởi đã từng đối mặt với mất mát, nên càng biết nâng niu những gì bình yên. Bởi đã từng đi xa, nên càng thấu hiểu giá trị của ngày trở về.

Khép lại bài thơ, trong em vẫn còn vang vọng hình ảnh người lính năm nào đứng trên con đường trở về quê mẹ sau ngày toàn thắng. Sau lưng là những năm tháng khói lửa, trước mặt là mái nhà, dòng sông, lối cũ thân quen. Khoảnh khắc ấy khiến em hiểu rằng có những giá trị chỉ khi đi xa người ta mới nhận ra hết sự thiêng liêng của nó. Quê hương trong bài thơ không chỉ là nơi để trở về, mà còn là nơi để nhớ, để thương và để gìn giữ suốt một đời.

Em xin cảm ơn Thầy đã chia sẻ một thi phẩm giàu tình quê, tình người và tình đất nước. “Về cố hương” không chỉ là câu chuyện của một người trở về sau chiến tranh, mà còn là lời nhắc nhở nhẹ nhàng để những thế hệ đi sau biết yêu hơn nơi mình sinh ra, biết trân trọng hơn những ngày bình yên mà cha anh đã đánh đổi bằng biết bao hy sinh mới có được.

Em tin rằng những câu thơ ấy sẽ còn ở lại rất lâu trong lòng người đọc, đặc biệt là những người con luôn mang trong tim một miền quê để nhớ, để thương và để hướng về.

Trân trọng,

Đặng Đức Quang

Khoa Anh A – HUBT


THANH XUÂN DẤN BƯỚC

 



Có những thanh xuân đã dừng lại ở tuổi hai mươi, nhưng ánh sáng của họ chưa từng tắt.

Họ gác lại giảng đường, khép những trang nhật ký còn dang dở, bước vào chiến tranh bằng tất cả sự trong trẻo của tuổi trẻ. Rồi một ngày, họ gửi thân mình cho đất mẹ, để tuổi xuân hóa thành màu xanh của Tổ quốc.

“Thanh xuân dấn bước” là nén tâm nhang dành cho những người đã chọn dấn thân, để hôm nay non sông được nở hoa trên những con đường bình yên.


THANH XUÂN DẤN BƯỚC 

 

Gác bút nghiên xưa, gửi lại trường,

Thân trai dấn bước giữa biên cương.

Vệt chiều chênh chếch trên nòng súng,

Hơi thở ngừng rơi dưới hố sương.


Khép lại thanh xuân cùng nhật ký,

Tan vào đất mẹ, hóa vầng dương.

Gửi nét tinh khôi cho đất thở,

Nở hoa non nước vạn nẻo đường.

 

(Quang Đặng - HUBT, 02.06.2026)




Thứ Hai, 1 tháng 6, 2026

MÀU ĐỎ XUÂN THÌ

 



Đất nước hôm nay xanh những cánh đồng, xanh những giấc mơ và xanh cả những chân trời đang mở rộng. Nhưng giữa muôn sắc xanh bình yên ấy, vẫn có một màu đỏ lặng lẽ đi cùng năm tháng.

 

Đó không chỉ là màu đỏ của lá cờ Tổ quốc.

 

Đó còn là màu đỏ của một thời tuổi trẻ đã gửi lại nơi đại ngàn, của những bước chân không trở về, của những mùa xuân mãi dừng ở tuổi đôi mươi để đất nước được đi tiếp đến hôm nay.

 

Năm tháng có thể phủ xanh những chiến trường xưa. Cỏ có thể che lấp dấu chân người lính. Nhưng có những điều càng lùi xa càng trở nên sáng rõ trong ký ức dân tộc.

 

“Màu đỏ xuân thì” là một khoảng lặng dành cho những người đã hóa thân vào đất nước. Trong tiếng gió rừng, trong hương trầm tháng Bảy, trong những mùa lúa chín và những mái nhà yên khói bếp, dường như vẫn có những tuổi xuân đang âm thầm hiện diện.


Xin mời Quý vị cùng bước vào bài thơ, để lắng nghe tiếng vọng từ đại ngàn năm ấy, và gặp lại một màu đỏ chưa bao giờ phai trong ký ức Việt Nam.


MÀU ĐỎ XUÂN THÌ

Anh gửi xuân thì nơi đại ngàn,
Mây trắng bốn mùa phủ đồi sim.
Đất nước vươn mình qua bão lửa,
Mẹ giấu nỗi đau quặn trong tim. 

Đồng đội hôm nay tìm dấu cũ,
Vượt suối băng rừng tới bên anh.
Tấc đất còn vương vệt khói trận,
Nghe rừng vẫn vọng tiếng quân hành.

Có người lúc đi, xuân vừa chớm,
Tuổi đôi mươi xanh tựa cánh diều.
Gửi trọn tình riêng vào đất nước,
Chẳng kịp một lần nói lời yêu.

Võng dù năm ấy xanh màu lá,
Đom đóm rừng đêm tựa sao trời.
Giấc mơ lúa chín trên đất mẹ,
Theo bước đoàn quân tới muôn nơi.

Dấu chân trinh sát ngày xưa ấy,
Nay hóa con đường nối núi sông.
Những lối cỏ mềm từng in bóng,
Dệt nên Tổ quốc nhuốm sắc hồng.

Trong mỗi mái nhà yên bếp lửa,
Vẫn còn lấp lánh những chiến công.
Máu anh hòa quyện lòng đất mẹ,
Nuôi mùa cau ngọt, lúa trổ bông.

Tên anh đâu chỉ trên bia đá,
Mà ở lòng dân tự thuở nào.
Tháng Bảy hương trầm bay trước gió,
Lau rừng nghe thấu chuyện năm nao.

Cúi đầu trước những mùa hoa lửa,
Đỏ cháy nghìn năm giữa đất trời.
Tuổi xuân các anh thành sông núi,
Nhuộm đỏ sắc cờ mãi thắm tươi.

 

(Quang Đặng – HUBT, 02.06.2026)


Đi tìm đồng đội

 


Kính gửi: Thầy Trần Anh Thơ

         CLB Văn Thơ - HUBT


Thưa Thầy,

Đêm qua, khi đọc bài thơ “Đi tìm đồng đội” của Thầy, con đã lặng đi rất lâu. Có những bài thơ người ta đọc bằng mắt, nhưng cũng có những bài thơ phải đọc bằng ký ức, bằng lòng biết ơn và bằng cả sự xúc động âm thầm. Với con, bài thơ của Thầy thuộc về vế thứ hai.

Từng câu chữ như đưa con bước vào cuộc hành trình ngược dòng thời gian, theo dấu những người lính năm xưa giữa núi thẳm rừng sâu. Con như nghe thấy tiếng gió lùa qua đại ngàn, tiếng bước chân của những người đồng đội đang miệt mài tìm nhau sau hàng chục năm xa cách, và thấp thoáng đâu đó là bóng dáng những người mẹ già vẫn ngóng về phương xa, mái đầu bạc đi cùng năm tháng đợi chờ.

Trong toàn bài thơ, từ “côi cút” khiến con day dứt nhất. Chỉ hai tiếng thôi mà mở ra cả một khoảng lặng mênh mang. Đó không chỉ là sự đơn độc giữa núi rừng, mà còn là nỗi niềm của những người đã gửi lại tuổi xuân cho Tổ quốc, để rồi nhiều năm sau vẫn chưa được trở về trong vòng tay quê mẹ. Từ ấy như một nhát chạm rất khẽ mà rất sâu vào lòng người đọc.

Con đặc biệt trân trọng cách Thầy viết về các anh hùng liệt sĩ. Không bi lụy, không tô đậm đau thương, cũng không dùng những lời lẽ lớn lao. Thầy chỉ lặng lẽ kể bằng sự thành kính và lòng tri ân, để từ đó mỗi tấc đất hiện lên như một trang sử sống, mỗi bước chân tìm kiếm đều mang theo nghĩa tình của những người còn ở lại. Chính sự giản dị ấy làm nên sức nặng của bài thơ.

Đọc đến những câu thơ cuối, con càng thấm thía rằng hòa bình hôm nay không phải điều tự nhiên mà có. Màu cờ Tổ quốc, những mùa hoa tháng Bảy, những nẻo đường bình yên trên khắp sơn hà đều được đánh đổi bằng máu đỏ và tuổi xuân của biết bao người con đất Việt. Bài thơ của Thầy vì thế không chỉ là một tác phẩm văn chương, mà còn là một nén tâm nhang thắp bằng chữ nghĩa để tưởng nhớ những người đã ngã xuống cho đất nước trường tồn.

Dù chưa một lần được ngồi trong lớp học của Thầy, con vẫn luôn coi mình là một người học trò nhỏ. Qua những gì Thầy đã và đang cống hiến cho Khoa Ngôn ngữ Anh, cho CLB Văn Thơ - HUBT và cho những giá trị nhân văn tốt đẹp, con học được rằng tri thức chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi cùng lòng yêu nước, sự tử tế và đạo lý tri ân.

Xin cảm ơn Thầy vì bài thơ đầy tình người và đầy trách nhiệm với lịch sử. Xin cảm ơn Thầy vì đã nhắc chúng con nhớ rằng phía sau mỗi mùa hoa nở của đất nước là những mùa xuân đã hóa thành bất tử.

Con xin được cúi đầu tri ân các anh hùng liệt sĩ, và cũng xin được bày tỏ lòng kính trọng sâu sắc đối với Thầy.

Kính chúc Thầy luôn mạnh khỏe, an vui và tiếp tục viết nên những vần thơ đẹp cho đời.


Con: Đặng Đức Quang

Khoa Anh A - HUBT


Đi tìm đồng đội

 

Thương quá các anh phương trời xa lạ

Cô đơn côi cút giữa núi thẳm rừng sâu

Mấy chục năm rồi đất nước thanh bình

Mẹ vẫn ngóng con qua bạc trắng mái đầu

 

Đồng đội hôm nay lần theo dấu cũ

Vượt dốc băng ngàn tìm lại tuổi hai mươi

Mỗi tấc đất là một trang lịch sử

Mỗi bước chân như chạm đến một đời người

 

Có những người đi khi xuân vừa chớm

Chưa kịp yêu, chưa kịp nói đôi lời

Gửi tuổi trẻ vào những mùa khói lửa

Để quê hương xanh mãi đến muôn đời

 

Dân nhớ mãi các anh hùng liệt sĩ

Đã hiến mình cho tổ quốc nở hoa

Máu các anh thắm màu cờ đất nước

Hòa bình yên trên mọi nẻo sơn hà

 

Ngày trở về trong vòng tay đất mẹ

Khói hương trầm quyện gió chiều nay

Các anh ngủ trong hồn thiêng sông núi

Tên tuổi còn cùng non nước tháng ngày

 

Ai đi qua những mùa hoa tháng Bảy

Xin cúi đầu, tưởng nhớ những người đi

Bởi đất nước có những mùa hoa nở

Được đắp xây từ máu đỏ xuân thì.

 

Đêm 31.5.2026







MÙA HOA NĂM ẤY

  Từ đường link do thi sĩ Nguyễn Quảng chia sẻ, tôi biết đến câu chuyện tình đặc biệt của Thượng tướng, Anh hùng LLVTND Nguyễn Chơn và Anh h...