LÁ THƯ DÀI NHẤT Ở
TRÊN ĐỜI
Đọc
“Thư gửi mẹ” của Nguyễn Quang Thiều
Có
những bài thơ khiến ta rơi nước mắt ngay khi đọc.
Nhưng
cũng có những bài thơ không làm ta khóc.
Nó
chỉ lặng lẽ bước vào lòng người như một cơn gió cuối chiều, rồi ở lại rất lâu.
Thư
gửi mẹ
của Nguyễn Quang Thiều là một bài thơ như thế.
Điều
đặc biệt là bài thơ được viết khi Nguyễn Quang Thiều mới ngoài hai mươi tuổi,
vào những năm chiến tranh vừa khép lại. Đó là thời điểm ở biết bao làng quê
Việt Nam, những tờ giấy báo tử vẫn chưa đủ sức khép lại niềm hy vọng của các bà
mẹ. Người ta vẫn ngóng ra đầu ngõ. Vẫn chờ một tiếng gọi quen. Vẫn tin rằng
biết đâu có một sự nhầm lẫn, biết đâu sẽ có một phép màu. Có lẽ vì được sinh ra
trong bầu không khí ấy, Thư gửi mẹ không mang tâm thế của một người kể lại
chiến tranh, mà giống như tiếng nói cất lên từ khoảng trống mà chiến tranh để
lại.
Đọc
xong bài thơ, người ta không nhớ mình đã nghẹn ở câu nào.
Chỉ
biết khi gấp trang sách lại, bỗng thấy nhớ mẹ hơn. Thấy thương những người lính
hơn. Và thấy hòa bình bỗng trở nên nặng hơn rất nhiều.
Bởi
bài thơ không kể về cái chết.
Nó
kể về một cuộc trở về.
Nhưng
đó là cuộc trở về mà người mẹ không bao giờ nhìn thấy.
Ngay
từ những câu mở đầu:
Thưa
mẹ!
Con
về với mẹ đây...
Không
có lấy một chữ “hy sinh”.
Không
có một dòng nào nói đến máu.
Không
một tiếng súng.
Không
một trận đánh.
Nhưng
người đọc lập tức hiểu rằng người con ấy đã đi qua ranh giới cuối cùng của đời
người.
Chỉ
có thơ mới có thể mở một cánh cửa kỳ lạ như vậy: để người đã khuất bước vào căn
bếp cũ, đi qua khu vườn quen, đứng sau lưng mẹ, nhìn mẹ, gọi mẹ, thương mẹ… mà
mẹ không hề hay biết.
Điều
kỳ diệu là Nguyễn Quang Thiều không để người lính trở về như một linh hồn gieo
nỗi sợ, cũng không trở về như một bóng ma của ký ức. Anh trở về bằng những điều
bình dị nhất: một ngọn gió, một tiếng lá, một quả cau rụng, một con mèo thức
cùng mẹ, một niêu tép còn thơm trên bếp, một tiếng gà gọi sáng, một mùa khế
chín. Nghĩa là anh không trở về để chứng minh mình còn hiện hữu, mà để người mẹ
cảm thấy cuộc đời này chưa bao giờ thật sự mất con.
Đó
không còn là lời của một người lính.
Đó
là tiếng nói của ký ức.
Là
tiếng nói của tình yêu không chịu khuất phục trước cái chết.
Điều
làm nên sức mạnh của bài thơ không nằm ở bi kịch.
Mà
nằm ở sự bình yên.
Chiến
tranh đã qua.
Làng
quê vẫn còn đó.
Cau
vẫn trổ.
Khế
vẫn vàng.
Gà
vẫn gáy.
Diều
vẫn bay.
Niêu
tép vẫn kho trên bếp.
Viên
bi vẫn lăn qua sân.
Mọi
thứ đều tiếp tục sống.
Chỉ
có một người mãi mãi đứng ngoài dòng thời gian ấy.
Đó
là phát hiện nghệ thuật khiến người đọc nghẹn lại.
Bởi
chiến tranh khủng khiếp nhất không phải vì nó lấy đi mạng sống.
Mà
vì nó để cuộc đời tiếp tục...
thiếu
một người.
Thiếu
rất lâu.
Thiếu
đến hết đời.
Nếu
đọc kỹ, sẽ thấy Nguyễn Quang Thiều đã tạo nên cả một hệ thống “đường trở về”
vô cùng đặc biệt.
Người
lính không bước qua cánh cổng làng bằng đôi chân.
Anh
trở về theo gió.
Theo
tiếng lá.
Theo
quả cau.
Theo
viên bi.
Theo
cánh diều.
Theo
tiếng sáo.
Theo
mùa gặt.
Theo
bếp lửa.
Theo
mùi cơm mới.
Theo
mùa Tết.
Mỗi
lần điệp khúc “Con đã về...” vang lên là một lần người con hiện diện ở
một không gian khác của ngôi nhà, của ký ức và của tình mẹ.
Càng
đọc, người ta càng nhận ra: trong thế giới của bài thơ, thiên nhiên và ký ức đã
thay con người hoàn thành điều mà sự sống không còn làm được.
Đưa
người con trở về với mẹ.
Nguyễn
Quang Thiều gần như không viết về người mẹ bằng những lời bi thương.
Ông
không để mẹ gào khóc.
Không
để mẹ gọi con.
Không
để mẹ ngất lịm trước bàn thờ.
Người
mẹ trong bài thơ chỉ âm thầm sống.
Chỉ
lặng lẽ ho.
Chỉ
vấn tóc trong đêm.
Chỉ
kho niêu tép.
Chỉ
quét ngõ.
Chỉ
cúi xuống nhóm bếp.
Chỉ
lưng còng theo năm tháng.
Chính
sự im lặng ấy mới là tiếng khóc lớn nhất.
Bởi
có những nỗi đau, khi đã đi cùng con người quá lâu, sẽ không còn bật thành nước
mắt nữa.
Nó
hóa thành dáng đi.
Hóa
thành nếp nhăn.
Hóa
thành tiếng ho.
Hóa
thành những bữa cơm luôn thừa một đôi đũa.
Có
lẽ không ở đâu, hình ảnh người mẹ Việt Nam lại được khắc họa bằng ít lời mà sâu
đến thế.
Rồi
bài thơ đi đến bốn câu mà có lẽ sẽ còn được nhắc rất lâu trong thơ Việt hiện
đại:
Chiến tranh qua rồi
và mãi mãi con tin
Con không chết, con chỉ không lớn nữa
Và con sống suốt đời mười tám tuổi
Như buổi chiều chào mẹ con đi.
Đây
không còn là thơ.
Đây
là một định nghĩa.
Một
định nghĩa về chiến tranh.
Một
định nghĩa về tuổi trẻ.
Một
định nghĩa về sự hy sinh.
Người
lính không nói mình đã chết.
Anh
chỉ nói:
“Con
chỉ không lớn nữa.”
Chỉ
sáu chữ.
Mà
mở ra cả một khoảng trống không gì lấp nổi.
Một
đời người bị giữ nguyên ở tuổi mười tám.
Không
bao giờ biết tóc bạc là gì.
Không
bao giờ biết thế nào là làm cha.
Không
bao giờ bế con.
Không
bao giờ tiễn mẹ.
Không
bao giờ già đi cùng quê hương.
Trong
khi tất cả đều lớn lên.
Chỉ
riêng anh đứng lại.
Mãi
mãi.
Có
lẽ đây là một trong những câu thơ đau nhất của văn học Việt Nam sau chiến
tranh.
Nó
đau bởi không nói đến cái chết.
Nó
đau bởi chỉ nói đến điều đã không kịp xảy ra.
Đọc
kỹ sẽ thấy, bài thơ được dệt nên bằng những điều nhỏ bé nhất.
Không
có đại bác.
Không
có cờ chiến thắng.
Không
có huân chương.
Chỉ
có một bông hoa đèn.
Một
viên bi.
Một
cần câu.
Một
niêu tép.
Một
con mèo.
Một
tiếng gà.
Một
chùm khế.
Một
cánh diều.
Một
cơn gió.
Đó
đều là những điều rất nhỏ.
Nhưng
chính những điều rất nhỏ ấy lại giữ được hình bóng của một con người.
Có
lẽ sau tất cả, điều còn sống lâu nhất không phải lịch sử.
Mà
là căn bếp.
Là
khoảng sân.
Là
mùi cơm mới.
Là
tiếng mẹ ho trong đêm.
Bởi
Tổ quốc, ở tận cùng, luôn bắt đầu từ một ngôi nhà.
Và
rồi Nguyễn Quang Thiều khép lại bài thơ bằng một trong những câu kết đẹp nhất
của thơ Việt hiện đại:
Ôi lá thư chỉ một câu
gọi mẹ
Là lá thư dài nhất ở trên đời.
Đó
là một nghịch lý thi ca tuyệt đẹp.
Một
câu.
Nhưng
dài nhất.
Bởi
chiều dài của lá thư không được đo bằng số chữ.
Mà
được đo bằng quãng đường người con không thể trở về.
Được
đo bằng những mùa cau đã trổ.
Những
mùa khế đã vàng.
Những
đêm mẹ thức.
Những
năm mẹ già.
Và
bằng cả một đời người mãi mãi dừng lại ở tuổi mười tám.
Nhưng
có lẽ còn một điều sâu hơn thế.
Thực
ra, lá thư ấy chưa bao giờ được viết xong.
Người
lính ra đi khi tuổi đời còn quá trẻ, mang theo cả những điều chưa kịp nói. Lá
thư còn dang dở ấy không nằm trong ba lô, cũng không nằm ở chiến trường. Nó nằm
trong nỗi chờ đợi của người mẹ và trong ký ức của dân tộc.
Có
cảm giác Nguyễn Quang Thiều đã viết tiếp lá thư ấy thay cho họ.
Không
phải bằng mực.
Mà
bằng ký ức.
Không
phải bằng giấy.
Mà
bằng lòng biết ơn.
Vì
thế, câu thơ cuối không chỉ khép lại một bài thơ.
Nó
khép lại biết bao lá thư chưa từng có cơ hội đến tay mẹ.
Có
những bài thơ viết về chiến tranh để ca ngợi chiến thắng.
Có
những bài thơ viết để kể lại lịch sử.
Nhưng
Thư gửi mẹ không chọn con đường ấy.
Bài
thơ không dựng tượng đài cho người lính.
Mà
trả người lính về đúng nơi họ thuộc về nhất:
làm
một người con.
Không
phải người anh hùng trước hết.
Mà
là người con luôn sợ mẹ ho nhiều hơn, luôn nhớ niêu tép mẹ kho, luôn muốn rón
rén bước chân như thuở nhỏ, luôn chỉ mong được ngồi bên bếp lửa một lần nữa.
Có
lẽ vì thế, bài thơ đã vượt qua giới hạn của một tác phẩm viết về chiến tranh để
trở thành một bài thơ về tình mẫu tử, về ký ức và về sự hiện diện của những
người không bao giờ thực sự rời khỏi cuộc đời này.
Khép
lại bài thơ, người đọc không mang theo tiếng súng.
Không
mang theo khói lửa.
Không
mang theo những chiến công.
Người
đọc chỉ mang theo một tiếng gọi.
“Mẹ.”
Trong
bài thơ ấy, “mẹ” không còn là người mẹ của riêng một người lính.
Đó
là người mẹ của biết bao người con đã gửi tuổi xuân mình cho đất nước.
Và
cũng là tiếng gọi sâu thẳm nhất mà con người còn giữ được sau mọi cuộc chiến.
Có
lẽ vì thế, Thư gửi mẹ không chỉ là một bài thơ để đọc.
Đó
là một nén hương bằng ngôn từ.
Một
nén hương được thắp lên cho mẹ.
Cho
người con.
Cho
những người lính mãi mãi ở lại tuổi mười tám.
Và
cho tất cả những cuộc trở về chỉ còn có thể diễn ra trong ký ức.
Để
mỗi lần đọc lại, ta không chỉ nhớ một bài thơ.
Ta
nhớ rằng hòa bình hôm nay được bắt đầu từ những người “không lớn nữa”,
và từ những người mẹ đã dành cả phần đời còn lại để chờ một tiếng gọi không bao
giờ cất thành lời.
Yên Mỹ, ngày 3.8.2026
Quang Đặng
THƯ GỬI MẸ
Thưa mẹ!
Con về với mẹ đây
Những ngọn gió thổi qua vườn cuối hạ
Lá xôn xao những cánh thư thầm
Chiến tranh đã tắt cuối con đường
Cau vẫn rụng vào những chiều thương nhớ
Bầy sẻ nâu đã bao mùa sinh nở
Con đã về, mẹ có thấy con không?
Cỏ đã lên mầm trên những hố bom
Ôi Tổ quốc lại một lần đứng dậy
Gió thổi suốt bốn nghìn năm và mẹ
Nước mắt đầy trên những vết nhăn
Con đã về với mẹ, chiều nay
Mà mẹ không nhìn thấy
Con mèo thay con thức cùng với mẹ
Lặng im theo bóng mẹ lưng còng
Chiến tranh qua rồi và mãi mãi con tin
Con ngủ quên dưới cánh rừng lá bạc
Khi gió thổi là con tỉnh giấc
Theo đường gió con về ngắm mẹ sau lưng
Viên bi tròn vẫn lăn mãi qua sân
Cần câu cũ buông vào từng kỷ niệm
Cánh diều giấy trẻ con làng lại thả
Tiếng sáo trăng tìm đến ngõ nhà mình
Con đã về rón rén bước chân
Như thủa nhỏ để òa trong nức nở
Con đã về mẹ bớt ho mẹ nhé
Bông hoa đèn lại nở sáng trong đêm
Có tiếng gà gọi mẹ góc vườn xa
Con vẫn thế hò reo chùm khế ngọt
Cau lại trổ mẹ ơi cau sẽ bổ
Trong cơn mê tiếng trẻ nói vang nhà
Chiến tranh qua rồi và mãi mãi con tin
Con không chết, con chỉ không lớn nữa
Và con sống suốt đời mười tám tuổi
Như buổi chiều chào mẹ con đi
Con đã vào đến bếp nhà ta
Ngồi bên mẹ xòe tay hơ trước lửa
Niêu tép mẹ kho suốt đời không thể nguội
Cơm đang cười mẹ có thấy con không?
Đũa vẫn so thừa cả những bữa cơm đông
Cánh cửa cũ chần chừ đêm gió lạ
Mẹ ơi mẹ, mẹ đừng ngồi khuya quá
Mẹ đừng ngồi vấn tóc mãi trong đêm
Những quả khế vàng rụng kín cả mùa thu
Mẹ thêu áo buổi chiều ra quét ngõ
Chim khách kêu rung từng chân tóc mẹ
Con đã về mẹ có bớt ho đêm
Con đã về trong tiếng sấm tháng Tư
Hoa gạo đỏ con cười trong tiếng gió
Con đã về trong mùa gặt hái
Cơm mới thơm như con đứng cười thầm
Con đã về lửa tí tách trong rơm
Soi mặt mẹ tự hào và thương nhớ
Con đã về khi làng vui đón Tết
Hoa đào xòe những chúm môi thơm
Chiến tranh qua rồi và mãi mãi mẹ ơi
Đồng đội con trở về với thư con viết dở
Ôi lá thư chỉ một câu gọi mẹ
Là lá thư dài nhất ở trên đời.
NGUYỄN QUANG THIỀU
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét