Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2026

Sau khói lửa, chỉ còn một chữ Tình

 




Kính gửi thầy Nguyễn Quảng – người thầy, người đồng nghiệp đáng kính dưới mái trường HUBT thân yêu!

Hôm nay, được đọc chùm thơ thầy chia sẻ trong nhóm CLB Văn Thơ HUBT gửi tham gia Tọa đàm “Ký ức thời hoa lửa”, em đã lặng lẽ đọc đi đọc lại nhiều lần. Có những bài thơ vừa khép lại, em chỉ biết ngồi yên rất lâu. Những câu chữ của thầy không còn nằm trên trang giấy, mà mở ra trước mắt em một miền ký ức còn nguyên hơi thở của một thời tuổi trẻ đã đi qua chiến tranh, của tình đồng đội và của những con người đã sống hết mình cho Tổ quốc.

Điều ở lại trong em sau khi đọc xong chùm thơ không phải trước hết là những câu chữ được gọt giũa hay những thủ pháp nghệ thuật, mà là bóng dáng của một con người đã đi qua chiến tranh nhưng chưa bao giờ để trái tim mình khô cằn.

Là một người thầy giảng dạy Toán học, cả đời gắn bó với những con số và những định lý nghiêm cẩn, vậy mà trong thầy lại có một tâm hồn thi sĩ sâu lắng đến vậy. Những năm tháng học tập tại Thiềm Tây (Trung Quốc), rồi tiếp tục sống, học tập và nghiên cứu khoa học trên đất nước Nga hẳn đã bồi đắp thêm chiều sâu văn hóa và sự từng trải cho tâm hồn ấy. Nhưng có lẽ điều làm nên tiếng thơ Nguyễn Quảng không nằm ở những miền đất thầy từng đi qua, mà ở chính những gì thầy đã sống, đã chứng kiến và đã mang theo suốt cuộc đời. Vì thế, thơ của thầy bình dị mà không đơn sơ, ít lời mà nhiều dư âm.

Đọc trọn chùm thơ, em có cảm giác như đang cùng thầy đi ngược dòng ký ức. Mỗi bài thơ là một điểm dừng. Mỗi điểm dừng đều lưu giữ một lát cắt của đời người lính: tuổi trẻ, đồng đội, chiến trường, biên cương và rồi trở về với những phận người bình dị giữa đời thường.

Hành trình ấy mở đầu bằng “Nhật ký hành quân” (3/1975).

Khí thế của những người lính trẻ hiện lên qua những bước quân hành “tựa gió xé mây chiều”. Nhưng điều khiến em lặng đi lại là hai câu thơ cuối:

    “Ngày về dám hẹn đường xa vắng,
    Hun hút niềm riêng nỗi tịch liêu.”

Giữa nhịp hành quân hối hả và khí thế của trận đánh cuối cùng, người lính vẫn mang trong mình những khoảng riêng rất đỗi con người. Đằng sau dáng vẻ hiên ngang vẫn là một trái tim biết nhớ, biết chờ và biết mơ về ngày trở lại. Chính khoảng lặng ấy làm cho bài thơ còn ngân mãi.

Đến “Đêm ngủ rừng”, người lính gần như không nói về gian khổ. Thầy chỉ kể một buổi chiều còn giữ hơi ấm trong tàu lá, một chiếc mũ làm gối và vầng trăng vàng như mật. Chỉ vài nét chấm phá, cả cánh rừng Trường Sơn hiện lên vừa mộc mạc, vừa bình yên. Có lẽ chính sự bình yên hiếm hoi ấy đã trở thành một ký ức theo người lính đi suốt cuộc đời.

Sang “Xuân về nhớ bạn”, em không chỉ bắt gặp nỗi nhớ dành cho người đồng đội – liệt sĩ Nghiêm Trần Thanh, mà còn lắng nghe được tiếng lòng của một con người đã đủ từng trải để nhìn cuộc đời bằng ánh mắt điềm tĩnh và bao dung hơn. Hai câu thơ:

    “Chợt ngày ngộ lẽ đời hư ảo,
    Ước bạch câu lưu một chữ tình.”

khiến em lặng đi rất lâu. Sau bao năm tháng binh lửa và những đổi thay của nhân thế, người lính dường như đã thấu hiểu rằng mọi được – mất, vinh – nhục rồi cũng chỉ là thoáng chốc. Điều còn có thể ở lại với thời gian không phải là những gì con người giữ cho riêng mình, mà là những gì con người trao gửi cho nhau.

Đặc biệt, cụm từ “bạch câu” gợi nhắc đến điển tích “bạch câu quá khích” – hình ảnh ví thời gian và kiếp người vụt qua nhanh như bóng ngựa trắng lướt ngang khe cửa. Có lẽ vì thấu hiểu sự hữu hạn ấy nên điều thầy ước nguyện lưu giữ sau cùng chỉ giản dị là “một chữ tình”. Không ồn ào, không triết lý, chỉ một câu thơ ngắn mà mở ra biết bao suy ngẫm về giá trị bền lâu của tình người. Đó cũng là đoạn thơ khiến em lưu luyến lâu nhất trong cả chùm thơ.

Theo mạch hồi ức ấy, em lại lặng người trước “Thăm đồng đội” nơi chiến trường Tây Quảng Trị.

    “Bốn mùa mưa gió chẳng hề trôi.”

Đọc đến chữ “trôi”, em bỗng thấy thời gian như chậm lại. Năm tháng vẫn lặng lẽ đi qua. Cỏ lau vẫn đổi màu theo mùa. Gió mưa vẫn miệt mài phủ kín ngọn đồi. Chỉ có người đồng đội là mãi mãi ở lại.

Để rồi câu hỏi:

    “Anh đã nằm đây bấy lâu rồi?”

không chỉ hướng về người đã khuất mà còn như một lời tự vấn dành cho những người đang sống. Bên nấm mộ lặng im, sắc đỏ của “hoa chuối rừng thắm đỏ quanh năm” hiện lên như ngọn lửa âm thầm của ký ức và lòng tri ân, khiến khung cảnh vốn quạnh vắng bỗng trở nên ấm áp bởi tình đồng đội chưa bao giờ phai nhạt.

Đến “Đêm Đồng Đăng”, em đặc biệt ấn tượng với câu thơ mở đầu:

    “Vương vấn về đâu một tiếng cười…”

Bài thơ không mở bằng tiếng súng hay khói lửa, mà mở bằng một tiếng cười đã khuất giữa miền biên ải. Chỉ một hình ảnh ấy cũng đủ gợi lên khoảng trống mà chiến tranh để lại trong lòng những người còn sống. Giữa mây trắng, ga buồn và núi đồi Đồng Đăng, lời thơ không bi lụy, không lên gân, mà lặng lẽ như một nén hương tri ân dành cho những người đã gửi tuổi xuân nơi biên cương Tổ quốc.

Và rồi chùm thơ khép lại bằng “Tiếng rao người bán dạo”.

Sau tất cả những ký ức chiến trường, người lính trở về với đời thường.

Tiếng rao đêm Hà Nội, dáng người bán dạo “liêu xiêu bóng vẹo đổ bên thềm” được nhìn bằng đôi mắt của một người đã từng đi qua mất mát. Có lẽ chỉ những ai đã chứng kiến quá nhiều chia ly mới thấu hiểu sâu sắc đến vậy những nhọc nhằn rất đỗi bình dị của cuộc sống. Vì thế, tiếng rao trong thơ thầy không chỉ là âm thanh của mưu sinh, mà còn là lời nhắc về lòng thương người chưa bao giờ vơi cạn.

Thầy Quảng kính mến!

Khép lại chùm thơ, điều còn ở lại trong em không phải là khói lửa chiến tranh hay những cuộc hành quân năm cũ. 

Điều còn ở lại là hình ảnh một người lính, sau tất cả những mất mát của đời mình, vẫn giữ nguyên khả năng rung động trước một ngôi mộ phủ cỏ lau, một tiếng cười đã khuất giữa Đồng Đăng hay một tiếng rao mỏng mảnh trong đêm Hà Nội.

Có lẽ đó cũng là vẻ đẹp bền lâu nhất trong thơ của thầy.

Đi qua chiến tranh để giữ lại lòng nhân hậu.

Em nghĩ điều quý nhất trong chùm thơ thầy không chỉ là việc lưu giữ ký ức của một thế hệ, mà còn là cách thầy gìn giữ ký ức ấy bằng một trái tim đầy yêu thương. Thơ của thầy không cố tạo những cao trào cảm xúc, cũng không tìm đến những câu chữ cầu kỳ. Mỗi bài thơ giống như một lời kể chậm rãi của người từng đi qua chiến tranh, từng chứng kiến mất mát và vì thế càng biết nâng niu sự bình yên của hôm nay. Chính sự chân thành ấy khiến người đọc càng đọc càng thấy lắng lại.

Em xin chân thành cảm ơn thầy – người thầy đáng kính, người lính năm xưa và người đã lặng lẽ gìn giữ ký ức bằng thơ – đã trao cho em cũng như các đồng nghiệp cơ hội được sống cùng một phần ký ức của dân tộc qua những vần thơ thấm đẫm tình người.

Kính chúc thầy luôn mạnh khỏe, bình an và tiếp tục viết. Để những ký ức của một thế hệ còn được lưu giữ trong thơ, và để những người đi sau như chúng em luôn có cơ hội được học thêm một bài học về lòng yêu nước, về tình đồng đội và trên hết là về vẻ đẹp của lòng nhân ái.

Người đồng nghiệp thế hệ sau luôn trân quý thầy,

Đặng Đức Quang

Yên Mỹ bên dòng sông Hồng, ngày 03 tháng 7 năm 2026.


CHÙM THƠ GỬI TỌA ĐÀM

“KÝ ỨC THỜI HOA LỬA” - ĐẠI HỌC HUBT

(Ngày 19/5/2026)

 

1. NHẬT KÝ HÀNH QUÂN

Bụi cuốn quân hành trời nhạt nắng

Quân đi tựa gió xé mây chiều

Ngày về dám hẹn đường xa vắng

Hun hút niềm riêng nỗi tịch liêu.

(Trên đường ra trận, 3/1975)

 

2. ĐÊM NGỦ RỪNG

(Nhớ những đêm hành quân ngủ rừng Trường Sơn)

Ráng chiều đọng lại trong tàu lá

Dành đến đêm khuya tỏa ấm dần

Tôi ngả lưng dài trên tảng đá

Gối đầu lên mũ thấy lâng lâng.

 

Hạnh phúc đơn sơ chợt giữa rừng

Cùng đoàn Giải Phóng tối dừng chân

Đất trời đâu cũng là đất mẹ

Che chở cho ta những lúc cần.

 

Mai mốt trở về nơi phố đông

Đêm rừng ai hỡi nhớ ta không

Trăng vàng như mật thoa lên má

Thoang thoảng hương đưa ngọt giấc nồng.


3. XUÂN VỀ NHỚ BẠN

(Nhớ bạn tôi, liệt sĩ Nghiêm Trần Thanh)

Đã mấy xuân rồi xa cách nhau

Giang Hà muôn nẻo bạn nơi đâu

Để ta hiu quạnh buồn ngơ ngẩn

Sương trắng ngàn đêm phủ mái đầu.

 

Nào mấy khi ta đối diện mình

Đêm ngày mê mải cuộc trường chinh

Chợt ngày ngộ lẽ đời hư ảo

Ước bạch câu lưu một chữ tình.

 

Mong ước an vui khắp mọi nhà

Sơn cùng thủy tận cũng hoan ca

Cho ngày hội ngộ hân hoan ấy

Đối ẩm hàn ôn ta với ta.


4. THĂM ĐỒNG ĐỘI

(Thăm mộ đồng đội ở chiến trường Tây Quảng Trị)

Ngôi mộ cô đơn ở cuối đồi

Bốn mùa mưa gió chẳng hề trôi

Cỏ lau trắng xóa che mờ lối

Anh đã nằm đây bấy lâu rồi?

 

Thắp nén nhang khóc thầm đồng đội

Dấu xa xưa vẫn thấy bồi hồi

Miền quê ấy ai người chờ đợi

Chiến trường xưa giờ đã xa xôi.

 

Chiều Miền Trung rực vàng sắc nắng

Ngôi mộ anh lặng lẽ yên nằm

Mùi hương khói bớt phần quạnh vắng

Hoa chuối rừng thắm đỏ quanh năm.


5. ĐÊM ĐỒNG ĐĂNG

(Nhân ngày 17/2 về thăm lại miền biên ải)

Vương vấn về đâu một tiếng cười

Ngỡ ngàng xứ Lạng, Đồng Đăng ơi

Mênh mông mây trắng vây đồi núi

Bát ngát rừng xanh quyện đất trời

 

Phố nhỏ tiêu điều cơn gió lạnh

Ga buồn hiu hắt ánh trăng rơi

Lặng nghe man mác hồn tử sĩ

Ước cánh bằng thâu nỗi cách vời.

(Đồng Đăng, 28/2/2024)

 

6. TIẾNG RAO NGƯỜI BÁN DẠO

(Thương người bán dạo đêm đông)

Tiếng người bán dạo thấm vào đêm

Mong lọt khe rèm cảnh ấm êm

Vàng vọt đèn khuya mờ dáng nhỏ

Liêu xiêu bóng vẹo đổ bên thềm.

 

Làng quê ít đất lo nghèo đến

Phố thị vàng son thấy khổ thêm

Rời rã lời rao buồn tứ chiếng

Hắt hiu ao ước chút êm đềm.

(Đêm Hà Nội, 12/2023)

Ký tên: NQ


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Sau khói lửa, chỉ còn một chữ Tình

  Kính gửi thầy Nguyễn Quảng – người thầy, người đồng nghiệp đáng kính dưới mái trường HUBT thân yêu! Hôm nay, được đọc chùm thơ thầy chia s...