KIẾN
TRÚC CỦA NHỮNG VẾT NỨT
Đọc “Tôi Đã Sống” của Nguyễn Vĩnh Tiến
Có
những người chỉ hiểu cuộc đời khi đã đi qua nó. Nguyễn Vĩnh Tiến cũng vậy. Anh
không viết để tìm câu trả lời. Anh viết sau khi những câu trả lời đã lần lượt
rời bỏ mình.
Là
một kiến trúc sư, nhạc sĩ kiêm thi sĩ, anh sở hữu một nhãn quan nghệ thuật hiếm
gặp — nơi không gian, âm thanh và ngôn từ giao thoa để kiến tạo nên một thế
giới quan rất riêng. Đọc thơ Nguyễn Vĩnh Tiến, ta không chỉ đọc câu chữ, mà còn
chạm vào nhịp điệu của một bản nhạc, nhìn thấy kết cấu tầng tầng lớp lớp của
một đời người.
“Tôi
Đã Sống” không phải một bản tự thuật, càng không phải lời tổng kết để tự huyền
thoại hóa bản thân. Đó là bản độc tấu nội tâm của một người nghệ sĩ khi ngoảnh
lại nhìn hành trình giông bão đã qua, lặng lẽ nhặt nhạnh từng mảnh vỡ để đặt
chúng trở về đúng vị trí vốn có.
Sự
thành thật tàn nhẫn và chiếc gõ nhịp số phận
Điều
gây ấn tượng mạnh mẽ ngay từ những dòng đầu tiên là sự thành thật đến mức tàn
nhẫn của cái tôi trữ tình. Toàn bộ bài thơ được kiến tạo bằng một điệp khúc
nhất quán: “Tôi đã sống”, “Tôi đã học”, “Tôi đã ăn”, “Tôi đã vui”...
Điệp
khúc ấy giống chiếc metronome giữ nhịp cho toàn bộ bản hòa âm ký ức, đồng thời
như những cột chịu lực âm thầm nâng đỡ cả công trình đời người.
Nguyễn
Vĩnh Tiến không che đậy. Anh phơi bày cả “sai lầm”, “ăn năn”, những khúc sông
tăm tối và cả khoảng lặng “hồn đầy rác rưởi, ba hoa”. Những đối cực ấy không
phủ định nhau mà cộng hưởng, tạc nên một chân dung con người đúng với độ phức
tạp vốn có.
“Đem
ngây thơ tranh luận với quỷ dơ.”
Chỉ
một câu thơ đã mở ra bi kịch của những kẻ cứng đầu, vẫn tin rằng sự trong trẻo
có thể đối thoại với cái ác. Thất bại khi bị “đuổi ra khỏi khu phố mộng mơ” rốt
cuộc lại là chiến thắng lộng lẫy nhất. Bởi thứ mất đi chỉ là một cuộc tranh
luận, còn điều giữ lại được là phần người nguyên sơ chưa từng bị tha hóa. Để
rồi ngay sau đó, giọng thơ bỗng tỉnh táo và sắc lạnh như một tuyên ngôn nhân
cách:
“Tôi đã sống không
lừa đảo, con buôn
Không thảo mai và
càng không đa cấp...”
“Cú
lừa” thảo thơm và mỹ học của vết nứt
Nhưng
tầng sâu xúc động nhất của bài thơ lại kết tinh ở một chi tiết tưởng như vụn
vặt: câu chuyện đơm cơm cho ông.
“Ngon nhất là hạt cơm
đơm cho ông
Ông tôi đã bị lừa bởi
tôi đơm đầy hai bát
Cú lừa này nén chặt
những thảo thơm...”
Có
lẽ đây là một trong những chữ “lừa” đẹp nhất của thi ca Việt Nam đương đại —
một cú lừa không sinh ra từ lòng vụ lợi mà từ sự tinh tế của tình yêu. Chỉ với
hai chữ “nén chặt”, Nguyễn Vĩnh Tiến đã chuyển hóa một khái niệm trừu tượng như
“hiếu nghĩa” thành một dạng vật chất có trọng lượng, có hình khối. Tình thương được
ép chặt vào ký ức, để nhiều năm sau chỉ cần chạm nhẹ, khối thảo thơm ấy lại
bung nở, làm nghẹn lòng người ở lại.
Có
lẽ cũng bởi mang tư duy của một kiến trúc sư, Nguyễn Vĩnh Tiến đặc biệt nhạy
cảm với những dấu vết thời gian. Hình ảnh “Cuộc đời toàn vết nứt cánh đồng
khô...” mang hàm nghĩa triết học sâu sắc. Không phải ngẫu nhiên tác giả đặt
“vết nứt” cạnh “cánh đồng khô”. Vết nứt chỉ xuất hiện sau những mùa đại hạn.
Con người cũng vậy. Chỉ những tâm hồn đã đi qua khô hạn của đời sống mới mang
trên mình những đường nứt sâu đến thế. Những đường nứt ấy khiến đời người thôi
nhẵn bóng để ký ức có chỗ neo vào.
Lượng
tử và khoảng lặng sau nốt nhạc cuối
Càng
về cuối, biên độ suy tưởng của tác phẩm càng mở rộng khi chạm ngõ một không
gian triết học hiện đại:
“Cuối cùng thì khúc
đại đoàn
Anh em lượng tử, lại
bàn chuyện quay
Quay cho chóng mặt
chóng mày
Bao giờ chán hết, lưu
đày lặng im...”
Khái
niệm “lượng tử” ở đây không nên hiểu như một định nghĩa khoa học khô khan, mà
là một trực giác nghệ thuật. Nó gợi ra thân phận con người vừa như một thực thể
riêng biệt, vừa luôn bị cuốn vào những liên hệ vô hình vượt khỏi khả năng nhận
biết.
“Quay
cho chóng mặt chóng mày” là cái cuồng quay của lịch sử, của dục vọng, của vòng
sinh tử luân hồi. Nhưng rồi tất cả chuyển động ấy bỗng lặng xuống: “Bao giờ
chán hết, lưu đày lặng im”. Từ “lưu đày” vốn mang sắc thái bi kịch, nhưng khi
đi cùng “lặng im”, nó bỗng hóa thành một sự tự do tự tại, một cõi tĩnh tại định
vị lại tâm hồn.
Giống
như một nhạc sĩ khép lại bản giao hưởng bằng một vạch nhịp lặng kéo dài, hay
một kiến trúc sư lùi lại sau khi công trình hoàn thiện để chính không gian tự
kể nốt phần còn lại, Nguyễn Vĩnh Tiến chọn cách thản nhiên đối diện với số
phận. Anh không thần thánh hóa nỗi đau, cũng không tẩy xóa sai lầm. Đọc xong
“Tôi Đã Sống”, điều đọng lại không phải là tiếng thở dài của sự vô thường, mà
là một bản lĩnh sống hiếm hoi.
Có
một điều mà suốt bài thơ Nguyễn Vĩnh Tiến tuyệt nhiên không nói. Anh chưa bao
giờ khẳng định mình sống đúng, cũng không tuyên bố mình sống thành công. Anh
chỉ khẳng định: Tôi đã sống.
Chỉ
ba chữ ấy thôi. Không biện hộ, không tự hào, không oán trách, không xin tha
thứ. Một người chỉ có thể nói được ba chữ giản dị ấy khi đã thôi mặc cả với quá
khứ. Có lẽ, đó mới là vẻ đẹp bền lâu nhất của toàn bộ thi phẩm này.
Có
những bài thơ khép lại khi câu chữ dừng lại. “Tôi Đã Sống” thì khác. Nó chỉ
thực sự bắt đầu sau dấu chấm cuối cùng, khi người đọc bất giác ngoảnh lại nhìn
chính cuộc đời mình.
Rốt
cuộc, Nguyễn Vĩnh Tiến không trao cho chúng ta một lời khuyên để sống, cũng
không đưa ra một đáp án về cuộc đời. Anh chỉ đặt vào tay người đọc một tấm
gương đủ trong để mỗi người tự nhìn thấy những vết nứt của chính mình. Và hiểu
rằng, đôi khi, điều làm nên phẩm giá của một đời người không phải những phần
nguyên vẹn, mà là cách người ta đã sống cùng những vết nứt ấy.
(Quang Đặng - HN, 5.7.2026)
Tôi Đã Sống
Thơ: Nguyễn Vĩnh Tiến
Tôi đã sống một cuộc đời đẹp nhất
Có sai lầm và có những ăn năn
Có tình yêu đẹp ảo những mùa trăng
Lúc căng tròn và tất nhiên, mùa khuyết
Tôi đã học và tưởng mình hiểu biết
Đem ngây thơ tranh luận với quỷ dơ
Nhưng chúng ngoài việc khinh bỉ ra mặt
Còn đuổi tôi ra khỏi khu phố mộng mơ
Tôi đã ăn, những hạt cơm ngon nhất
Ngon nhất là hạt cơm đơm cho ông
Ông tôi đã bị lừa bởi tôi đơm đầy hai bát
Cú lừa này nén chặt những thảo thơm...
Tôi đã hồn nhiên có những người bạn
Trong cơn say của những thập niên buồn
Chúng tôi cảnh giác nhau, xuất phát là thế
Nhưng ga cuối, lại là chung nguồn cơn...
Tôi đã sống không lừa đảo, con buôn
Không thảo mai và càng không đa cấp
Mãi sau này đọc và xem tấp nập
Những cuốn phim kể tội loài người...
Tôi đã vui, và thậm chí mỉm cười
Vì mình mãi ngây thơ như đứa trẻ
Tất nhiên là tôi cũng không kín kẽ
Cuộc đời toàn vết nứt cánh đồng khô...
Tôi đã tham gia vào đống hội mơ hồ
Thoi thóp hít, những giấc mơ thời đại
Rồi bạn bè những đứa đi mãi mãi
Chúng vô tăm, chả để lại tín hiệu gì...
Tôi rất buồn trong vũ trụ vô tri
Tha thiết sống, để làm gì thế?
Ngủ vùi trong những tửu, ca, dâu bể
Sáng hoảng hồn, học lại sự lạc quan...
Tôi đã sống, một cuộc đời cầu toàn
Có lúc oan, và khúc sông tăm tối
Tất nhiên là, hồn đầy rác rưởi
Cứ sinh ra cùng tôi cõi ba hoa...
Tôi đã sống, vì tôi được sinh ra
Cũng lỗ mỗ nhiều vết đâm kinh sử
Cũng ai oán những tâm tình Thuỷ Hử
Hoặc ngông cuồng Xích Bích những cơn say...
Tôi đã sống, lê lết tới hôm nay
Một chân dung, chả có gì đáng nói
Một câu chuyện, loãng ra như khói
Một cuộc đời thuận theo mấy giác quan...
Cuối cùng thì khúc đại đoàn
Anh em lượng tử, lại bàn chuyện quay
Quay cho chóng mặt chóng mày
Bao giờ chán hết, lưu đày lặng im...
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét