LỜI TỰ SỰ – GIỌT SÁNG GIỮA ĐỜI
Có những điều của đời
người, tôi phải đi gần hết hành trình mới hiểu rằng mình đã biết từ thuở nhỏ.
Nhưng phải lớn lên, phải va vấp và trải qua nhiều ngả đường, tôi mới đủ lặng để
nghe lại những bài học từng nằm sẵn trong gió, trong khói rơm và trong những
buổi trưa vàng lấp lóa nơi đồng làng.
Tôi sinh ra bên một
triền sông đỏ nặng phù sa. Nước những ngày ấy không chỉ chảy mà còn dạy tôi
rằng đừng chống lại dòng, hãy đi trong dòng. Mãi về sau tôi mới biết: thuận
theo không phải buông xuôi mà là học cách mượn lực của đời để đưa mình đi xa
hơn, nhẹ hơn.
Đồng làng thuở ấy –
nơi gió chẳng bao giờ im – lại dạy tôi một điều khác: vững chãi đôi khi là mềm.
Lũ trẻ quê cứ nghĩ mạnh là phải rắn, phải cứng. Nhưng gió thì không. Cây mềm
mới không gãy. Người mềm mới không vỡ. Tôi phải mất gần nửa cuộc đời để hiểu
trọn chữ mềm ấy.
Khói rơm, mùi ngai
ngái, một buổi chiều lam tím... từ những thứ nhỏ nhoi tưởng chẳng đáng nhớ, tôi
học được điều quan trọng nhất: sự dịu dàng luôn đủ sức cứu rỗi một ngày mệt
mỏi. Đó là lý do trong thơ tôi, những điều bình dị thường trở thành báu vật.
Những năm đi xa, tôi
bước qua nhiều phương trời hơn tôi từng tưởng. Mỗi chốn đều có những cánh cửa
khép hờ – không từ chối cũng không chào đón – chỉ chờ mình đủ kiên nhẫn. Có
những đêm tôi muốn bỏ cuộc, rồi lại hiểu rằng kiên nhẫn chính là đôi cánh của
đời, thứ nâng ta bay chậm mà chắc, lặng mà bền.
Tĩnh lặng không phải
điều bẩm sinh. Tôi học nó từ những đêm dài không tiếng động, những khi ngồi lại
với chính mình sau bao cuộc đi và về. Chính sự tĩnh ấy đã cho tôi những mối
duyên không ngờ: con người, công việc và cả sự bình an mà trước kia tôi tưởng
chỉ đến với ai may mắn.
Rồi tôi trở về. Không
phải vì bước chân mỏi, mà vì lòng đã đủ những chữ và những miền. Ở bên lớp trẻ,
tôi nhận ra chính tôi của ngày cũ: háo hức, thiếu kiên nhẫn nhưng sáng rỡ. Tôi
học cách cho vừa đủ và nhận càng ít để lòng mình không nặng, không đục.
Khi nhìn lại, qua bao
năm gió tạt mưa giông, tôi thấy sáng tối rồi cũng chẳng khác bao nhiêu. Thứ
khác biệt nằm ở minh tri – thứ ánh sáng nhỏ mà mỗi người phải tự gìn giữ để
không lẫn lạc giữa đời.
Có lẽ vì vậy mà khi
đi qua bốn mùa đời – xuân của non trẻ, hạ của cống hiến, thu của chiêm nghiệm,
đông của lắng đọng – tôi vẫn giữ được một nụ cười lặng thinh. Không phải cười
vì vui, mà vì hiểu rằng mọi thăng trầm rồi cũng nhẹ như mây tan.
Giờ đây, nếu phải nói
một điều với người đọc, tôi chỉ muốn khẽ nhắc: bình an là thứ không ai có thể
trao cho ta. Nó chỉ đến khi ta đủ tĩnh để nghe được chính mình.
Và bài thơ này, thực
ra, là lời gửi lại cho tôi của ngày mai, và có lẽ cũng cho ai đó của hôm nay,
rằng có ánh sáng nào bền hơn ánh sáng tự mình giữ lấy. Nhỏ thôi, như một giọt
nắng bình minh, nhưng đủ để ấm được một đời người.
BÌNH AN GIỮA BỐN MÙA ĐỜI
Thuở xưa lớn giữa triền sông,
Nước trôi dạy cách thuận dòng mà đi.
Đồng làng gió gọi thầm thì,
Hiểu ra: vững chãi đôi khi là mềm.
Khói rơm ấm một vùng êm,
Cho tôi biết quý êm đềm nhỏ nhoi.
Nắng mưa gạn lọc ngọt bồi,
Thì ra kiên nhẫn hóa đôi cánh đời.
Lên đường qua mấy phương trời,
Gặp bao cánh cửa ngược xuôi khép hờ.
Đêm dài học cách đợi chờ,
Biết rằng tĩnh lặng – tình cờ bén duyên.
Gom từng chữ, góp từng miền,
Tôi mang về lại an nhiên buổi đầu.
Đứng bên lớp trẻ gieo màu,
Biết cho làm đủ – nhận đâu để lòng.
Bao năm gió tạt mưa giông,
Hóa ra sáng tối cũng không khác gì.
Chỉ cần giữ được minh tri,
Lòng trong vằng vặc – cũng vì thương thôi.
Đi qua hết bốn mùa đời,
Tôi còn giữ được nụ cười lặng thinh.
Tựa như giọt nắng bình minh,
Nhẹ mà sáng, lặng mà bình an sâu.
(Quang Đặng – HUBT, 4.12.2025)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét